[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Saturday, October 11, 2014

Quá lớn nên không thể thất bại: Vai trò của các trường đại học vì lợi nhuận tại Mỹ (Phần 2)



(tiếp theo phần 1)
Vai trò và quy mô của khu vực vì lợi nhuận
Hơn 20 năm trước đây, chẳng ai - kể cả những người làm việc trong khu vực vì lợi nhuận - có thể đoán được rằng có đến 12 % số người học đại học sẽ theo học tại các trường đại học vì lợi nhuận vào năm 2011. Và cho đến nay, vẫn chưa ai xác định khu vực này sẽ có quy mô ra sao để đáp ứng nhu cầu học tập sau trung học của công chúng.

Với tốc độ phát triển cũng như những vấn đề hiện nay của khối trường đại học tư vì lợi nhuận, chúng ta cần một quy mô như thế nào cho khu vực vì lợi nhuận để đạt được sự tối ưu? Nhu cầu học tập sau trung học sẽ giúp xác định quy mô của giáo dục đại học vì lợi nhuận. Nếu thị trường đã bão hòa, thì rõ ràng là không cần mở rộng thêm nữa. Nhưng vấn đề này thật ra không đáng quan tâm vì nó sẽ được tự giải quyết: Lúc ấy, khu vực vì lợi nhuận sẽ không tạo ra được lợi nhuận, nên sẽ tự giảm bớt hoặc đóng cửa. Tuy nhiên, dễ thấy rằng mọi việc đang diễn ra theo chiều ngược lại: nước Mỹ đang cần ngày càng nhiều những công dân có bằng đại học những các trường đại học truyền thống sẽ không thể đáp ứng nhu cầu ấy.

Như đã từng được nêu trên tạp chí này[1], khi Hoa Kỳ chuyển dần từ một nền kinh tế công nghiệp trong phạm vi một quốc gia sang nền kinh tế tri thức toàn cầu, nó sẽ cần một tỷ lệ người có học vấn cao hơn trong nhiều khu vực kinh tế khác nhau – điều này cần thiết đối với từng cá nhân cũng như toàn xã hội. Vì vậy, Tổng thống Hoa Kỳ đã đưa ra mục tiêu sẽ vượt lên thành tốp đầu trong số các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) các quốc gia về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học trong dân số. Theo ước tính trong vòng 10 năm tới, nước Mỹ sẽ cần tăng thêm mỗi năm một triệu sinh viên nhằm đáp ứng mục tiêu này. Và điều này sẽ không thể đạt được nếu không có sự tham gia đáng kể của các nhóm sinh viên sau đây: những người trưởng thành đang có việc làm, những người mà trước đó chưa bao giờ học đại học và cũng có rất ít những cơ hội lựa chọn – và đó cũng chính là đa số công dân của đất nước này.


Các trường đại học vì lợi nhuận đang tìm cách đáp ứng với thách thức này mạnh mẽ hơn bất cứ loại trường nào khác. Các trường tư phi lợi nhuận thường không quan tâm đáp ứng các chính sách của nhà nước hay sự gia tăng nhu cầu đối với các ngành đào tạo định hướng nghề nghiệp rõ ràng trong một thị trường việc làm đầy rẫy thất nghiệp, còn các trường công lập thì đang phải vật lộn với sự cắt giảm ngân sách và những bất ổn trong tổ chức của mình.

Các trường cao đẳng và trường đại học đào tạo cử nhân công lập hiện đang gặp nhiều khó khăn để tiếp tục giữ được số lượng sinh viên như trước đây, và một vài trường đã có ý định giảm lượng sinh viên. Ví dụ, hệ thống đại học California State University (CSU), hiện đã giảm khoảng 10.000 sinh viên so với năm trước, đồng thời cũng chấp nhận nhiều sinh viên từ bên ngoài tiểu bang vào học để thu học phí cao hơn. Hệ thống trường Cao đẳng cộng đồng California (CCC) thì đã giảm 400.000 sinh viên.


Như vậy, trong khi chính phủ đang kêu gọi gia tăng số người có bằng đại học, thì các trường đại học công lập lại đang giữ nguyên số lượng hoặc thậm chí giảm lượng sinh viên. Mà để giữ lượng sinh viên như hiện nay thì các trường này cũng đang phải trả giá. Sĩ số lớp học lớn hơn, số môn học ít hơn, và các lớp học mùa hè thường xuyên bị cắt giảm. Nói chung các trường đại học công, sẽ không thể đáp ứng nhu cầu học tập đang gia tăng bởi vì họ đã hoạt động hết công suất với cấu trúc hiện nay.

Có hai kịch bản thay thế có thể xảy ra. Trước hết, các tiểu bang có thể tăng thuế để cho phép các trường nhận thêm sinh viên. Thứ hai, các trường đại học công có thể thay đổi cơ bản cách vận hành, cắt giảm chi phí, để có thể phục vụ nhiều sinh viên hơn. Cả hai kịch bản này dường như lại rất khó xảy ra. Dù thế nào đi nữa, thì các công dân và các đại biểu dân cử của các tiểu bang cũng không thích thú gì với việc tăng thuế. Tương tự như vậy, tại các trường thì cả nhà quản lý, giảng viên lẫn công đoàn đều tỏ ra rất ít quan tâm đến việc tái cấu trúc lại nhà trường.

Nếu chúng ta đồng ý rằng sự gia tăng tham gia vào giáo dục đại học là rất quan trọng đối với kinh tế và phúc lợi xã hội của đất nước và thừa nhận rằng 1) khu vực nhà nước không có khả năng tăng lượng sinh viên một cách đáng kể và 2) đại học tư phi lợi nhuận không thể đáp ứng các mục tiêu đầy tham vọng đã được thiết lập, liệu chúng ta sẽ có những lựa chọn thay thế nào để đảm bảo rằng các trường đại học tư vì lợi nhuận có thể mở rộng mà vẫn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức của ngành giáo dục?

Dù muốn hay không, thì nước Mỹ vẫn cần khu vực vì lợi nhuận để đảm bảo khả năng phát triển kinh tế. Nếu chúng ta đồng ý – dù là một cách thích thú hay miễn cưỡng – rằng khu vực vì lợi nhuận có vai trò trong việc đảm bảo sự phát triển của giáo dục đại học Mỹ, thì chúng ta cần quan tâm đến những điều gì để đảm bảo rằng khu vực này sẽ hoạt động một cách có trách nhiệm?

Phải làm thế nào cho đúng?
Đảm bảo tuyển sinh có đạo đức
Nếu chúng ta thừa nhận rằng việc tuyển người học phi truyền thống đòi hỏi phải có những cách thức mới, thì cần làm như thế nào để đảm bảo rằng việc tuyển sinh vừa có hiệu quả vừa có đạo đức? Những người chỉ trích khu vực vì lợi nhuận trong những năm qua đã cáo buộc rằng toàn bộ khu vực này là tệ hại. Các phát ngôn viên và những người vận động hành lang của những trường tư vì lợi nhuận đã đáp lại rằng "đó chỉ là một số trường hợp cá biệt" và phản đối việc bị nhà nước giám sát. Mặc dù cần nghiên cứu thêm về việc này, các tiểu bang cũng vẫn nên phải đặt ra các tiêu chuẩn để vừa chấp nhận những cách thực hành mới, vừa đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng giáo dục.

Để được tiểu bang cấp phép hoạt động, có thể yêu cầu các nhân viên tư vấn của các trường phải có chứng chỉ để đảm bảo họ hiểu rõ các tiêu chuẩn đạo đức cũng như cách thực hành tuyển sinh nào là chấp nhận được và không chấp nhận được. Bất kỳ trường nào cung cấp thông tin sai lệch trên website hoặc quảng cáo sai đều cần phải bị vạch rõ về các hành vi phi đạo đức này, đồng thời bị phạt tiền và cuối cùng có thể bị cơ quan bảo vệ người tiêu dùng của tiểu bang đóng cửa. Tuy nhiên hiện đang có những tiểu bang hầu như không có quy định về giấy phép mở trường, và trong vì vậy chính quyền liên bang có thể phải làm việc thông qua các tổ chức kiểm định khu vực để đảm bảo rằng nhân viên tuyển sinh của các trường được huấn luyện thích hợp và cung cấp chính xác các thông tin về nhà trường chính xác cả trên trang web lẫn các ấn phẩm quảng cáo.

Thông tin cho người học về khoản nợ phải vay

Ngoài những kẻ lường gạt để kiếm lợi, sẽ chẳng ai được ích lợi gì khi người học phải vay một khoản nợ học tập rất lớn để rồi không thể trả được. Người nộp thuế sẽ mất hàng triệu đô la nếu người học không có khả năng trả nợ và chính phủ phải gánh chịu. Các trường vì lợi nhuận muốn tiếp tục hoạt độngđều biết rằng người học sẽ không tiếp tục đến học nếu chi phí học tập quá cao. Còn người học thì phải trả hàng ngàn đô la cho một nỗ lực mà cuối cùng không có lợi gì cả.

Chính phủ liên bang cần phải đảm bảo rằng người học hiểu biết đầy đủ về nghĩa vụ trả nợ khoản vay học tập của mình khi quyết định đăng ký học. Vai trò của chính phủ là vừa giáo dục người tiêu dùng vừa ngăn chặn các hành vi lừa đảo. Thuốc lá bắt buộc phải in lời cảnh báo có hại cho sức khỏe, và đã có một chiến dịch giáo dục công chúng rầm rộ về sự nguy hiểm của thuốc lá. Khi một sản phẩm độc hại được bán ra, thì Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ sẽ phải ra quyết định thu hồi. Người tiêu dùng tiềm năng của giáo dục đại học cũng cần được bảo vệ tương tự.

Có hai câu hỏi quan trọng liên quan đến các khoản vay nợ học tập của sinh viên.

Trước hết họ cần được cung cấp những thông tin gì khi họ nộp đơn xin vay hỗ trợ học tập của liên bang, và ai sẽ có nghĩa vụ cung cấp những thông tin này cho họ? Người học có thể đã được cung cấp đầy đủ thông tin, nhưng do sự thiếu hiểu biết của các sinh viên thế hệ đầu tiên từ các gia đình có thu nhập thấp, nên những thông tin ấy có thể chẳng có ý nghĩa gì đối với họ.

Mặc dù tất cả các trường đều được yêu cầu tổ chức những buổi hướng dẫn về tài chính cho sinh viên trước khi đăng ký nhập học, nhưng hiệu quả của chỉ một đợt hướng dẫn là rất nhỏ và khó có thể đánh giá. Điều này cũng tương tự như việc các nhà hàng được yêu cầu liệt kê lượng calories trong từng món ăn,  nhưng chẳng ai cho rằng họ phải có trách nhiệm hướng dẫn cho thực khách những hiểu biết về dinh dưỡng. Hiểu biết về tài chính là một quá trình phải mất nhiều năm. Vì vậy, gánh nặng của việc hướng dẫn người học về tài chính chủ yếu là trách nhiệm của chính quyền tiểu bang và liên bang, những nơi cần đưa ra và hỗ trợ tài chính cho các chương trình hướng dẫn người học về các khoản vay, học bổng, khoản nợ, v.v…  và cũng chẳng phải chỉ riêng những người học ở những trường vì lợi nhuận.

Hơn nữa, ai phải chịu trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng? Nếu nhiều sinh viên của một trường có khuynh hướng mắc phải những khoản nợ cao ngất ngưởng đến khó chấp nhận, thì có thể giải quyết bằng nhiều cách: gửi thông báo đến người học, đăng thông tin bắt buộc trên trang web của trường và trên các ấn phẩm giới thiệu trường (tương tự như lời cảnh báo trên bao thuốc lá), v.v... Ở đây, cả chính quyền tiểu bang lẫn liên bang đều phải có vai trò, bởi vì một số trường đại học tư vì lợi nhuận hoạt động trên toàn quốc, trong khi một số khác chỉ hoạt động trên phạm vi một tiểu bang.

Và cuối cùng, nếu sinh viên của một trường bị mắc nợ quá nhiều thì trách nhiệm của trường ấy là như thế nào? Vai trò của chính quyền liên bang chính là truất quyền được hỗ trợ và vay nợ học tập của trường ấy; chính quyền tiểu bang cũng cần làm tương tự với những khoản hỗ trợ của tiểu bang. Các tiểu bang cũng có thể giám sát các khoản nợ của người học tại từng trường, khi một trường đã vượt quá mức nợ trung bình, thì sẽ được nhận một thư cảnh báo. Về lâu về dài, chính các tiểu bang phải có trách chấm dứt hoạt động của các công ty hoạt động gian lận bằng cách sử dụng quyền cấp phép hoạt động của mình.

Đào tạo kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động
Các sinh viên theo học tại các trường tư vì lợi nhuận vào năm 2011 cũng vì lý do tương tự như các phụ nữ trẻ đi học tại trường Katherine Gibbs cách đó một thế kỷ: hòng được đào tạo các kỹ năng cần thiết cho thị trường. Một người muốn học nghề đầu bếp và bỏ tiền ra để học những kỹ năng cần thiết sẽ cảm thấy thất vọng khi biết rằng công việc duy nhất mà họ có thể kiếm được với tấm bằng chỉ là rửa chén mà thôi.

Tất nhiên nhận xét này không phải lúc nào cũng đúng. Kiếm việc khi kinh tế thuận lợi tất nhiên sẽ dễ dàng hơn khi kinh tế đang khó khăn. Một số nghề đòi hỏi người vào nghề phải bắt đầu từ bậc thấp nhất. Và không phải lúc nào cũng có một mối quan hệ tuyến tính giữa những gì được học ở trường và công việc đầu tiên mà người học tìm được.

Tuy nhiên, nói rằng không có mối liên hệ nào giữa việc học ở trường và công việc sau khi tốt nghiệp cũng là ngụy biện. Cần phải có những chính sách sao cho những yếu tố tác động bên ngoài đã được tính đến nhưng vẫn bảo vệ được người tiêu dùng và người đóng thuế.

Chưa có vấn đề nào liên quan đến đại học tư lại gây tranh cãi cho bằng quy định sinh viên tốt nghiệp phải có việc làm xứng đáng. Có người cho rằng các trường phải chịu trách nhiệm về loại công việc mà người học sẽ kiếm được sau khi ra trường, còn người khác thì không đồng ý. Mặc dù trách nhiệm trong việc tìm được công việc cho mình chủ yếu là của người tốt nghiệp, nhưng các trường không được quyền làm cho người học tin rằng họ sẽ tìm được việc khi trên thực tế đang không có việc, hoặc khi những công việc được hứa hẹn có mức lương thấp hơn nhiều so với những gì mà người học mong đợi dựa trên thông tin mà nhà trường cung cấp.

Các tổ chức kiểm định cần phải đảm bảo rằng các trường cung cấp cho người học tiềm năng không chỉ các thông tin về chi phí của toàn khóa học mà còn về những công việc mà họ có thể kiếm được sau khi hoàn tất – và yêu cầu này là cho cả các trường đại học vì lợi nhuận lẫn những trường truyền thống. Chẳng hạn, người học cần được biết rằng chứng chỉ về mát-xa trị liệu do một trường nghề vì lợi nhuận cung cấp sẽ chỉ kiếm được mức lương $ 40,000/ năm, không có bảo hiểm y tế và cũng hầu như không có cơ hội thăng tiến; cũng như một sinh lấy bằng Tiến sĩ về văn học thời Victoria từ một trường tư phi lợi nhuận ưu tú cũng cần được biết rằng sẽ không có vị trí giảng viên nào chờ đợi họ đâu. Rồi sau đó, người học sẽ có những quyết định với đầy đủ thông tin. Tuy nhiên, “việc làm xứng đáng” cũng phải được xác định dựa trên mức lương trong một khoảng thời gian dài chứ không thể xác định trên mức lương của công việc đầu tiên ngay sau khi tốt nghiệp.

Những mối liên hệ qua lại và chặt chẽ giữa người học, nhà trường, và môi trường kinh tế bên ngoài hiện nay không còn giống với như cách đây vài thập niên. Hiện nay chúng ta không còn có thể để mặc cho sinh viên tự quyết định họ sẽ học ngành gì rồi hy vọng rằng sau đó họ sẽ có lúc tìm được việc. Quả là không thể đòi hỏi các trường đại học chỉ nhằm vào việc đào tạo nhân lực cho nền kinh tế, nhưng các trường cũng phải có vai trò thiết yếu trong việc cung cấp cho người học những kỹ năng ở trình độ cao và nghề nghiệp với mức lương xứng đáng.

Vai trò điều tiết của Chính phủ
Trong vài năm qua, khối trường đại học tư vì lợi nhuận đã phản ứng lại với hầu hết các quy định mà Bộ Giáo dục đề xuất. Trong khi bản thân các trường này cũng có các cải cách ít nhiều và bắt đầu chấp nhận những nghiên cứu từ bên ngoài so với thời kỳ cách đây một thập niên, nhưng nhìn chung các trường vì lợi nhuận vẫn giữ triết lý về tự do thương mại và định hướng thị trường. Giả định của họ là thị trường có cơ chế tự điều chỉnh và nó sẽ giải quyết mọi vấn đề; các trường tai tiếng sẽ tự động bị loại khỏi cuộc chơi. Theo quan điểm này, chính phủ hầu như không có vai trò gì ngoài việc trợ cấp cho người học để tạo thuận lợi cho sự phát triển của các công ty.

Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn tăng số lượng người tốt nghiệp đại học thì cần phải giữ cho khu vực giáo dục đại học có sự cạnh tranh lành mạnh, và điều này sẽ không thể xảy ra nếu có các quy định quá khắt khe khiến các trường tư vì lợi nhuận không hoạt động được cũng như nếu chúng ta cho rằng cơ chế thị trường sẽ giải quyết mọi vấn đề. Còn nếu chúng ta muốn khối trường tư vì lợi nhuận hoạt động tốt, thì chúng ta cần có những chính sách tổng quát sau đây.

Trước hết, cần phải đưa khối trường tư vì lợi nhuận vào trong kế hoạch phát triển hệ thống giáo dục của tiểu bang – có thể thêm vào danh sách  các trường đang được điều phối bởi các Ủy ban giáo dục đại học của tiểu bang, hoặc thông qua những hội đồng riêng biệt khác. Việc hoạch định sẽ không thể xảy ra nếu như các khu vực trong cùng một ngành công nghiệp không có cách thức để nắm được thông tin chính thức. Đến lúc ấy, tất cả mọi loại hình trường sẽ cần phải cung cấp thông tin cho cả người tiêu dùng lẫn nhà chính sách qua các dữ liệu về chi phí, tỷ lệ tiếp tục học, tỷ lệ tốt nghiệp và việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Một số tiểu bang cũng cần tăng cường năng lực quản lý các trường đại học tư vì lợi nhuận. Ví dụ, hiện nay ở Califorina chỉ có vài công chức phải giám sát hoạt động của hàng trăm trường tư vì lợi nhuận. Những công chức này có quá ít thời gian để tìm ra những vụ gian lận, chứ đừng nói đến việc thông báo cho công chúng hoặc đóng cửa các trường này và giải quyết những kiện tụng về sau. Hơn nữa, trong thời đại khi công nghệ cho phép các tổ chức hoạt động xuyên biên giới một cách dễ dàng, các tiểu bang cần phải có cơ chế hợp tác để quản lý các trường hoạt động trong khu vực và trên toàn quốc, cũng như hỗ trợ sự tăng trưởng hợp pháp của chúng.

Mặc dù giáo dục và lợi nhuận không hẳn là không thể đi được với nhau, nhưng việc giáo dục các công dân của một đất nước cũng chẳng thể giống với việc sản xuất kem. Đúng là nếu không có kem, thì dân chúng có thể hơi buồn một chút, nhưng điều đó không đe dọa sự ổn định của kinh tế và xã hội. Giáo dục đại học – dù là phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận – là điều tối cần thiết cho tương lai của đất nước.

Các trường đại học vì lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong thế kỷ 21, bởi vì nếu không có chúng, thì chúng ta không thể đạt được tỷ lệ người có bằng đại học như mong muốn. Tuy nhiên, mặc dù nền giáo dục đại học của nước Mỹ nên - nói đúng hơn là phải - bao gồm cả các trường vì lợi nhuận, những trường này cũng cần phải chấp nhận trách nhiệm và sự giám sát cần thiết đối với tất cả những ai tham gia vào ngành công nghiệp giáo dục đại học.
 ----------


Tài liệu tham khảo
1. Hentschke, G. C., Lechuga, V. M. and Tierney, W. G. (eds) (2010) For-profit colleges and universities: Their markets, regulation, performance, and place in higher education, Stylus, Sterling, VA.
2. Tierney, W. G. and Hentschke, G. C. (2007) New players, different game: Understanding the rise of for-profit colleges and universities, Johns Hopkins University Press, Baltimore, MD.
3. Tierney, W. G. and Hentschke, G. C. (2011) Making it happen: Increasing college access in California higher education: The role of private postsecondary providers, National University System Institute for Policy Research, La Jolla, CA. Retrieved from http://www.nusinstitute.org/assets/resources/pageResources/NUSIPRMakingItHappen.pdf
4. Weisbrod, B. A., Ballou, J. P. and Asch, E. D. (2008) Mission and money: Understanding the university, Cambridge University Press, Cambridge, UK.



Quá lớn nên không thể thất bại: Vai trò của trường đại học tư vì lợi nhuận tại Mỹ (Phần 1)

Nhân vụ lùm xùm kéo dài tại ĐH Hoa Sen liên quan đến "vì lợi nhuận" và "phi lợi nhuận", tôi đã đọc rất nhiều về đại học vì lợi nhuận trên thế giới, và tìm được bài này của GS Tierney, một giáo sư hàng đầu chuyên nghiên cứu về giáo dục đại học tại một trường đại học phi lợi nhuận của Mỹ, trường USC University of Southern California. Một bài rất đáng đọc và cần được giới thiệu đến bạn đọc, do những hiểu biết không đầy đủ và rất lệch lạc về đại học tư vì lợi nhuận tại VN. Bài đã được Tạp chí Tia Sáng đăng dưới dạng rút gọn, tại đây: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7945. Dưới đây là bài đầy đủ.
-------

Quá lớn nên không thể thất bại: Vai trò của các trường đại học vì lợi nhuận tại Mỹ[1]

William G. Tierney

Mặc dù các trường đại học và cao đẳng vì lợi nhuận ở Mỹ đã có một lịch sử lâu dài, chúng chỉ mới bắt đầu được nhiều người chú ý từ thập niên trước. Trong những năm đầu thế kỷ 20, các trường cao đẳng nghề tồn tại chủ yếu ở khu vực đô thị để đào tạo những ngành nghề cụ thể, như thợ sửa ống nước, quản lý nhà hàng, nghệ thuật và thiết kế, thẩm mỹ, hỗ trợ pháp lý, và những ngành nghề tương tự. Các trường này phần lớn là trường nhỏ chỉ có vài lớp học trong các tòa nhà được thuê mướn. Học phí tại các trường này tương đối thấp và người học đến đây để học những kỹ năng cụ thể nhằm kiếm việc làm.

Ngay trong thập niên 1960, các trường cao đẳng nghề vẫn chỉ là một phần nhỏ trong nền giáo dục đại học Mỹ. Năm 1967 có khoảng 7 triệu người họctại các trường đại học và cao đẳng ở Mỹ, và trong số này chỉ có gần 22.000 người học tại các trường vì lợi nhuận, tức chưa đến 0.3%. Thật ra, thuật ngữ “đại học/cao đẳng vì lợi nhuận" khi ấy vẫn chưa được sử dụng; thay vào đó chúng được gọi là trường cao đẳng nghề hoặc cao đẳng kỹ thuật. Trong vài thập niên sau đó, các trường này vẫn thuộc sở hữu tư nhân và ít bị dư luận săm soi. Đa số các trường này không được kiểm định, và cũng chẳng tìm kiếm sự tài trợ của liên bang hoặc tiểu bang.

Tình hình bắt đầu thay đổi với sự ra đời của Đại học Phoenix vào năm 1976, hiện nay là cơ sở giáo dục sau trung học lớn thứ hai của Mỹ, với hơn 400.000 sinh viên. Ngày nay, các trường cao đẳng nghề nhỏ theo kiểu “gia đình” vẫn còn tồn tại, nhưng chúng lọt thỏm trong số những trường lớn khác như Đại học Phoenix và các trường giao dịch công cộng khác như Đại học Corinthian và Đại học DeVry, mỗi trường có hơn 80.000 sinh viên.

Lịch sử phát triển của đại học tư vì lợi nhuận thể hiện rõ qua trường hợp của một trong những trường cao đẳng nghề nổi tiếng ở giai đoạn đầu, Trường Katherine Gibbs. Được thành lập vào năm 1911 tại Providence, Rhode Island, ban đầu trường này đào tạo nghề thư ký cho phụ nữ trẻ. Sau đó, trường Katherine Gibbs phát triển thành một chuỗi các cơ sở cao đẳng nghề khá thành công ở bờ Đông nước Mỹ, đào tạo các kỹ năng như đánh máy, tốc ký, và kỹ năng ứng xử trong môi trường kinh doanh. Năm 1997, Tập đoàn Giáo dục nghề nghiệp (Career Education Corporation), một tổ chức vì lợi nhuận khổng lồ đã mua lại Trường Katherine Gibbs.

Đại học Phoenix và các trường tư vì lợi nhuận khác bắt đầu thử nghiệm quá trình thay đổi ý nghĩa và mục đích của giáo dục đại học bằng nhiều cách khác nhau. Người học là những người trưởng thành đã đi làm và học bán thời gian không chỉ là đối tượng trọng tâm của các trường này, mà được xem là một nguồn khách hàng tiềm năng khổng lồ vốn bị các trường đại học truyền thống hoặc bỏ qua hoặc xem thường. Đối tượng người học này không cần các trường lớp truyền thống với các điều kiện hoạt động văn thể mỹ liên quan – các phòng tập thể dục, hội quán sinh viên, sân thi đấu điền kinh, v.v... Thay vì phải chọn trong rất nhiều môn học mà lợi ích của chúng đối với nghề nghiệp tương lai không rõ ràng, người học chỉ cần chọn một số môn học hữu hạn, được tổ chức giảng dạy tại các thời điểm và địa điểm thuận tiện, theo một cách làm rất hiệu quả và tập trung cao độ.

Vai trò của giảng viên tại các trường này cũng rất khác. Biên chế chính thức, quyền tham gia các hoạt động quản trị, và quyền tự do học thuật hoàn toàn vắng mặt. Trong khi tại các đại học truyền thống, giảng viên có toàn quyền tự xây dựng nội dung môn học, khiến cho cùng một học có thể có những trọng tâm, mục tiêu và mục đích rất khác nhau tùy thuộc vào giảng viên, thì tại các trường đại học tư vì lợi nhuận nội dung môn học được chuẩn hóa và phong cách giảng dạy của các giảng viên thường là giống nhau.

Tình trạng được kiểm định trở thành một chuẩn mực quan trọng đối với nhiều cơ sở giáo dục vì lợi nhuận. Điều này không chỉ có ý nghĩa như một sự công nhận về chất lượng, mặc dù điều đó là chắc chắn quan trọng. Đối tượng người học của các trường này không chỉ là những người học trưởng thành đang có việc làm, mà ngày càng có nhiều lớp sinh viên thế hệ đầu tiên từ những gia đình nghèo. Đối với những sinh viên này, học phí tại các trường tư vì lợi nhuận ở mức cao đến khó chấp nhận. Nhưng tình trạng được  kiểm định sẽ cho phép các sinh viên này nhận hỗ trợ tài chính từ liên bang, và sau này, một số tiểu bang như California, cũng cho phép sinh viên của các trường tư được kiểm định nộp đơn xin hỗ trợ tài chính của tiểu bang nữa. Nếu không có hỗ trợ tài chính của liên bang và tiểu bang thì sự phát triển của loại trường này chắc chắn sẽ không thể cao như hiện nay.

Là doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận, các trường tư vì lợi nhuận đại diện cho mô hình kinh doanh khác biệt căn bản với các trường đại học và cao đẳng truyền thống. Những trường này tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kết hợp tốc độ tăng trưởng cả về số lượng lẫn về tỷ lệ lợi nhuận tính theo đơn vị (chênh lệch giữa chi phí và doanh thu). Kết quả là sự đãi ngộ và thước đo sự thành công của loại trường này cũng khác với các trường đại học và cao đẳng truyền thống.

Tính đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, số sinh viên theo học các cơ sở giáo dục vì lợi nhuận đã tăng lên đến gần 1,2 triệu người, tương đương khoảng 6,5% tổng số sinh viên trên toàn nước Mỹ. Nếu tính cả những chương trình cấp chứng chỉ, thị phần của các trường vì lợi nhuận được ước tính là khoảng 12%. Các trường này cũng cung cấp nhiều khóa học trực tuyến hơn các trường đại học công hoặc đại học tư phi lợi nhuận. Đây là khu vực phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục sau trung học.

Bán dịch vụ giáo dục
Cho dù sự hài lòng của khách hàng, việc phát triển sản phẩm, và quan hệ cộng đồng có thể là quan trọng, nhưng một công ty kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà không tạo ra được doanh thu, thì cuối cùng nó cũng không thể tồn tại. Vì vậy, trong vòng khoảng ¼ thể kỷ vừa qua, các cơ sở giáo dục đại học vì lợi nhuận đã tìm ra những cách để tạo doanh thu. Tình trạng được công nhận kiểm định là một trong những cách ấy, vì nó sẽ cho phép các trường được nhận hỗ trợ tài chính hoặc được vay ưu đãi cho sinh viên.

Ở Mỹ, số tiền hỗ trợ học phí cho người học là do chính người học định đoạt, vì vậy cần phải làm sao để họ chọn mua dịch vụ giáo dục của nhà trường. Trên thị trường, đôi khi các sản phẩm đã tồn tại sẵn, và doanh nghiệp mới tham gia thị trường cần phải tạo ra một thị trường ngách hoặc thuyết phục được khách hàng rằng sản phẩm của họ tốt hơn sản phẩm của đối thủ. Đôi khi, những nhà cung cấp mới tạo ra một phân khúc hoàn toàn mới. Ngành công nghiệp ô tô luôn đưa ra các kiểu dáng mới được cho là đã cải tiến so với chiếc xe hiện tại hoặc một loại xe mới hoàn toàn. Những kiểu xe mới hàng năm, và loại xe ô tô tiện ích thể thao, chính là những ví dụ từ ngành công nghiệp ô tô. Rõ ràng, nếu các sản phẩm mới không có sự cải tiến hoặc nếu khách hàng cho rằng phân khúc thị trường mới là không cần thiết thì sản phẩm đó hoặc cả công ty sẽ chới với và có thể phải chấm dứt kinh doanh.

Đôi khi có thể kết hợp nhiều cách: một công ty có thể tạo ra một phân khúc hoàn toàn mới cùng một lúc với sự gia tăng nhu về sản phẩm đó. Nhưng thông thường khách hàng không biết rằng sản phẩm này cần cho họ, cho đến khi có một chiến dịch quảng cáo thành công. Loại giấy có dán keo nhãn hiệu “Post-its” và loại dép có quai nhãn hiệu “Crocs” là những sản phẩm hiện nay có thể thấy nhan nhản khắp nơi mặc dù trước khi những sản phẩm này được đưa ra thị trường thì chẳng có ai có vẻ cần đến những sản phẩm này cả.

Các trường đại học và cao đẳng vì lợi nhuận đã phát triển y hệt như thế. Các trường đại học truyền thống không tiếp thị, cũng chẳng quan tâm đến những người học trưởng thành, những người thuộc thế hệ đầu tiên học đại học từ các gia đình thu nhập thấp. Nhưng trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tấm bằng tốt nghiệp trung học không còn đủ để đảm bảo một cuộc sống trung lưu, và việc tham gia học tập sau trung học sẽ dẫn đến những mức lương cao hơn. Với sự thay đổi nhận thức về giá trị của giáo dục sau trung học trong xã hội, các trường vì lợi nhuận đã nhận ra được phân khúc thị trường mới này, nhưng họ cũng hiểu rằng cần phải tiếp thị sản phẩm để biến tiềm năng đó thành hiện thực.

Văn phòng tuyển sinh của các trường công lập thường rất ít tiếp thị vì họ đã có một nguồn khách hàng tự nhiên nên không quan tâm đến việc thu hút đối tượng người học mà những trường vì lợi nhuận quan tâm. Trong khi đó, những trường tư phi lợi nhuận ưu tú lại đánh dấu uy tín của mình qua tỷ lệ những sinh viên mà họ từ chối. Vì vậy, các trường vì lợi nhuận cần phải thu hút những người chưa bao giờ nghĩ đến việc đi học đại học, thậm chí cũng chẳng nghĩ đến việc bước chân vào khuôn viên của một trường đại học.

Kết quả là những trường vì lợi nhuận đã áp dụng những cách tuyển sinh mà nhiều người cho là kỳ lạ, thậm chí là vô đạo đức hoặc trái pháp luật. Thay vì tham gia vào quá trình tuyển sinh kéo dài từ mùa hè trước năm lớp 12 và kết thúc bằng một thư chấp thuận vào mùa xuân, rồi thư hỗ trợ tài chính ngay sau đó, các trường vì lợi nhuận đã đẩy nhanh tiến độ tuyển sinh. Họ tìm khách hàng tiềm năng, thuyết phục khách hàng về giá trị của sản phẩm, giải thích các chi phí và thủ tục tài chính, và thuyết phục khách hàng đăng ký nhập học. Các môn học có thể bắt đầu ngay vài ngày sau đó.

Vấn đề phát sinh khi người tiêu dùng không hiểu chi phí thực của sản phẩm, những chi phí sẽ phát sinh để hoàn tất việc học, hoặc những gì họ sẽ đạt được sau khi tốt nghiệp. Nếu các trường vì lợi nhuận cung cấp một sản phẩm có giá trị tương đương hoặc thấp hơn mà chi phí lại cao hơn so với các trường phi lợi nhuận thì hẳn là cơ chế thị trường sẽ tự giải quyết vấn đề đó. Tuy nhiên, cơ chế thị trường chỉ có tác dụng nếu người tiêu dùng được cung cấp đầy đủ về chi phí và lợi ích của sản phẩm.

Một mặt, những người làm việc trong các trường vì lợi nhuận lập luận rằng việc đưa thông tin sai lệch là rất hiếm; nhìn chung việc học tập tại các trường vì lợi nhuận đã đem lại lợi ích cho người học vì thu nhập của họ tăng lên rất nhiều khiến cho khoản nợ mà họ đã phải vay cho việc học đại học trở thành không đáng kể. Mặt khác, các cơ quan liên bang và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng cáo buộc rằng khoản nợ học tập đối với nhiều người học là quá mức chịu đựng, khi so mức lương mà họ được nhận với tấm bằng mà họ được trao - nếu quả thật họ có thể hoàn tất được việc học để lấy được tấm bằng.


Một vấn đề nữa rất đặc thù đối với các sản phẩm từ các trường vì lợi nhuận. Vào cùng khoảng thời gian Đại học Phoenix ra đời, một hãng hàng không non trẻ, Southwest Airlines, cũng đã bắt đầu. Ở nhiều khía cạnh, cả hai công ty vì lợi nhuận này khá giống nhau. Cả hai đều quyết định hoạt động một cách khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh truyền thống. Cả hai đều phục vụ cho đối tượng khác hàng khác, và sử dụng nhân viên của theo những cách không giống với các đối thủ của mình. Cả hai đều cần có lợi nhuận. Cả hai đã cực kỳ thành công. Nhưng sự giống nhau giữa hai công ty này kết thúc ở đây, mà lý do chính là vì các sản phẩm mà hai công ty này cung cấp.

Southwest Airlines ngay lập tức phải đối mặt với đòn phản công pháp lý của đối thủ cạnh tranh của mình. Các hãng hàng không đang tồn tại thấy rằng ngành hàng không chẳng cần có thêm một đối thủ cạnh tranh mới, và ban đầu đã cố gắng ngăn chặn rồi sau đó thì kiềm chế sự tăng trưởng của nó. Đại học Phoenix đã được các đối thủ cạnh tranh của mình làm ngơ. Trong khi Southwest Airlines ngày nay được các công ty hàng không khác nhìn nhận là một công ty thành công, thì Đại học Phoenix và những trường tương tự đều bị mọi người nhíu mày chê trách, không chỉ vì các cáo buộc về hành vi sai trái mà còn vì đối với nhiều người, ý nghĩ rằng giáo dục là một sản phẩm có thể mua vào bán ra là một điều không thể chấp nhận. .

Người ta thường nghĩ về giáo dục như là hàng hóa công. Khi nhu cầu học đại học tăng lên do những ưu tiên của tiểu bang hoặc của các cử tri thì mọi người đều cho rằng cần phải xây thêm những trường đại học công mới. Ví dụ, trong vòng 20 năm qua, người ta đã thảo luận về nhu cầu xây dựng một cơ sở mới của hệ thống Đại học California (UC). Cuối cùng, sau khi chính quyền tiểu bang phải chi ra khoảng 500 triệu đô, trường Đại học UC Merced cũng đã mở cửa hoạt động và bây giờ đã có 5.000 sinh viên. Cũng trong 20 năm đó, hầu như không ai nhắc đến hoặc tranh luận về việc phải chăng một trường đại học vì lợi nhuận có thể là cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của 5000 sinh viên này cũng như các sinh viên tiềm năng khác.