[Ga: een map omhoog, voorpagina, ]

Thứ Ba, ngày 05 tháng 8 năm 2014

CHỈ TẠI NHÀ THƠ...

  Bịa chuyện cho vui       

 Quỷ Đầu Trâu dạo này được Giời giao cho cai quản dưới âm phủ. Đáng nhẽ cái chức trách ấy là của Diêm vương nhưng Diêm Vương lại mải chơi nên hay xí xớn đi thăm chỗ này chỗ khác để ra điều với thiên hạ rằng thì là nếu Giời mà nghỉ hưu thì sẽ lên thay... Chính vì vậy mà Quỷ Đầu Trâu được cai quản âm ty địa ngục.
          Ngặt một nỗi những thằng người bị chết đều được Giời chứng nhận thuộc diện trong sạch nên được lên Thiên đường ráo cả, chả có đứa nào phải xuống âm phủ. Thành thử Quỷ Đầu Trâu nhận chức mà không có việc gì để làm.
          Đầu tiên Quỷ muốn ra oai định lên trần thế bắt mấy thằng có chức quyền xuống mà khảo cho đỡ “nhạt ghế”. Thật ra quan chức trên này thì thằng nào cũng có tội cả. Lại nhớ lệnh của Giời là làm gì cũng phải tính trước tính sau, bắt hết hỏi tội hết... thì bầu không kịp... Quỷ muốn cắt “Cu” thì phải theo khuôn phép nhà Giời, Giời đã bảo như thế thì đứa nào dám trái, nên đành chịu.
          Được giao “Quyền”  mà lại không có việc gì thì sinh ra chán. Trong không gian âm ty mờ mịt nhờ nhờ nước hến, Quỷ ngồi ngoẹo cổ ngủ gật trên ngai, dãi rớt lòng thòng ướt cả ngực áo. Thấy lành lạnh ở ngực, quỷ tỉnh dậy. Ngáp vài cái mồm rách đến mang tai... chợt thấy sự vô lý của cái chức vị đang quyền. Nghĩ một hồi rồi Quỷ ta khăn gói quả mướp lên giời...
          Qua chín tầng cửa quyền mới vào đến chỗ Giời. Thấy giời cũng đang... ngủ ngồi. Đánh thức dậy thì phạm đến long thể đấng Chí tôn cai quản muôn loài. Mà không  đánh thức thì đến bao giờ mới tâu trình được. Quỷ Đầu Trâu gõ sừng cồng cộc vào chân ngai vàng mà Giời vẫn cứ ngủ. Chắc đêm vừa rồi ngài thức khuya lo việc tầm vũ trụ. Kể cũng thương. Nhưng một ngày trên giời bằng 1 năm dưới trần, một năm dưới trần lại bằng mười năm dưới âm phủ, cứ ngồi đợi thế này thì không khéo phải đóng cửa Âm phủ thì gay. Tính sao bây giờ.
          May sao giữa lúc ấy có Tiên nữ bên cung Quảng hớt hải chạy sang:
          - Giời ơi giời... dậy đi dậy ngay!
          Quái, con này láo thế, dám gọi Giời như thể bằng vai phải lứa. Nhưng Quỷ chợt hiểu ra từ cái câu của người trần thế “gần chùa gọi bụt bằng anh”... cùng giường thì Giời cũng được gọi bằng anh... chả trách nào Ngài vẫn còn mệt.
          Khiếp ngủ gì mà ngủ ác thế. Gọi đến lần thứ hai thứ ba thì Giời mới giật mình hốt hoảng (ôi thì ra Giời vẫn biết sợ):
          - Có việc gì? Việc gì?
          Tiên nữ nói một hơi:
          - Công chúa Hằng Nga nguy... nguy rồi!
          - Sao mà nguy?
          Tiên nữ nhìn Quỷ Đầu Trâu ngại ngại. Giời cũng nhìn thấy Quỷ Đầu Trâu... nhưng ngài phẩy tay:
          - Nói... không việc gì phải ngại! Thằng này ngu lắm, mấy lị dưới âm phủ thì nói được với ai mà ngại. Cứ nói đi, con ta làm sao? Nguy là nguy thế nào?
          - Dạ... dạ. Công chúa Hằng Nga bị bị vỡ... vú.
          Nghe đến đây mặt Giời tái mét... suýt ngất. Cũng may ngài là Giời nên trấn tĩnh được:
          - Sao mà vú con ta lại vỡ được?
          - Dạ... vỡ là do bị nổ ạ! Dạ là do phẫu thuật bơm thẩm mỹ ạ. Do cái mụ Thiên y mắt trố cập bờ lờ nên...
          - Giời ơi là... Chợt nhớ ra mình là giời nên đành kêu khổ thế... khổ thế. Nói cụ thể ta nghe xem nào? Vú nó đang hẳn hoi vậy mà sao phải bơm thẩm mỹ...
          Tiên nữ lập bập thưa:
          -Tại... tại... mấy thằng nhà thơ dưới hạ giới ạ...
          -? ? ?
          - Là bởi nhẽ thế này: ở cung Quảng dạo này buồn quá nên Công chúa sinh ra hay đọc thơ để giải buồn. Đọc nhiều lắm ạ! Nhưng càng đọc Công chúa lại càng tức. Tức vì các nhà thơ toàn ca ngợi Hằng Nga đẹp vào lúc tròn đầy. Mà Giời cũng biết rồi đấy, cả tháng chỉ đầy được có vài ngày còn thì lép xẹp: Đầu tháng mỏng như cái lá lúa, cuối tháng thì nham nhở như thể bị chó gặm. Những lúc ấy chả đứa nào ca ngợi cả. Vậy là Hằng Nga quyết bơm ngực cho đầy cả tháng để bọn nhà thơ lúc nào cũng phải ca ngợi. Vậy là bảo Thiên Y bơm ngực. Thiên Y đặt mức bơm một giờ từ lúc 12 giờ trưa đến 1 giờ chiều... Nào ngờ Thiên y mải buôn dưa lê quên cả thời gian lại mắt cập bờ lờ nên nhìn đồng hồ “nhầm” kim ngắn hóa kim dài kim dài thành kim ngắn... 1 giờ chiều lại tưởng mười hai giờ năm phút... vậy là cứ bơm... cứ bơm... vậy là đoành một phát... nổ to lắm... vậy là Hằng Nga vỡ vú... Vậy là...
          Giời hốt hoảng nhảy từ trên ngai vàng xuống miệng lẩm bẩm: Mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông. Xỏ vội chân vào đôi hia rồi khoát tay một phát Giời bảo: Đi! Thế là Giời đi sang cung Quảng cùng Tiên nữ.
          Quỷ Đầu trâu vội chạy theo nắm lấy vạt áo Giời níu lại. Giời cáu:
          - Đang vội. Có việc gì? Nói mau.
          Quỷ lập bập:
          - Dạ bẩm...
          - Bẩm cái con khỉ. Nói mau... vội bỏ mẹ lại còn bẩm...
          Quỷ vội thưa:
          - Bẩm dạo này dưới âm ty không có việc để làm!
          Giời chửi ngay:
          - Sao ngu thế. Tao đã đặt ra chức cho mà ngồi thì phải tự nghĩ ra việc để mà làm. Có vậy mà còn hỏi.
          Nói xong Giời tất tả đi miệng vẫn lẩm bẩm: mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông.
          Quỷ nghe được những nhời vàng ngọc của Giời nhưng chả hiểu ra làm sao. Hắn đứng gãi tai, gãi mũi một hồi rồi nhẩm: “Nghĩ việc mà làm... mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông”. Thế là thế nào nhỉ? À đúng rồi mình là quân của Giời, phải nhớ câu “còn Giời thì còn quỷ...” mà Giời đang ghét mấy tay nhà thơ. Vậy thì phải trị mấy tay nhà thơ. Đúng. Phải trị. Thay Giời hành đạo, trị mấy tay nhà thơ lập công với Giời. Thế nào cũng được thưởng công, thế nào cũng lên chức. Rồi mình sẽ lên làm Diêm Vương, rồi dần dần được đề bạt làm ông Giời, thoát khỏi kiếp tay sai làm quỷ. Sướng quá. Quỷ vội ba chân bốn cẳng rời khỏi Thiên đình để đi tìm mấy tay nhà thơ dưới trần thế.
          Đến trần thế thì Quỷ Đầu Trâu lại băn khoăn. Nhà thơ là người như thế nào, hắn đâu có biết và cũng chưa gặp bao giờ. Nhưng nghe cái danh xưng “nhà” thơ thì chắc chắn nó phải có cái nhà rất to. Rồi! Nó phải biết làm thơ. Rồi! Nhưng Thơ là cái gì nhỉ... chắc là phải nói có vần... Rồi thì gì nữa nhỉ... Quỷ Đầu Trâu vốn không biết chữ. Không biết chữ nó khổ thế đấy giời ạ...Ôi thôi chết! Phạm húy... Quỷ vội rụt lưỡi lại.
          Từ xa xa Quỷ trông thấy một thằng người. Thằng này đang dạng chân đứng đái. Lại thấy hắn vừa đái vừa hét rõ to:
                   Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
                   Trông hôm nay và trông cả mai sau
                   Trông bắc trông nam trông cả địa cầu...
          Hiên ngang gớm, vần gớm... Có thể thằng này là nhà thơ- Quỷ nghĩ vậy. Nhưng không biết nhà nó có to không? Cần phải kiểm tra. Nhưng lộ mặt quỷ thì không được: nếu gặp thằng nhát thì nó sẽ chạy bán sới, còn nếu gặp thằng cùn thì... nó đập vỡ mặt. Lại phải nghĩ cách. Quỷ bèn hóa thành đứa con gái. Đứa con gái ưỡn ẹo đến gần thằng người:
          - Em chào anh!
          Thằng người thấy gái thì vội quay người kéo khóa quần... rồi đon đả:
          - Anh chào em gái yêu kiều.
          Ối giời... lại còn yêu kiều. Đúng nhà thơ thật rồi. Vậy là cô gái quỷ hỏi:
          - Anh là nhà thơ phải không ạ.
          Thằng người thấy gái gọi là nhà thơ thì sướng nở mặt nở mũi. Hắn trả lời ngay tắp lự: Đúng anh là nhà thơ... công nhận em gái tinh thật. Vừa xinh đẹp vừa thông minh.
          Thực ra thằng này là thằng chăn vịt, suốt ngày lông nhông ngoài đồng. Nay thấy gái thì ra cái điều thơ phú. Quỷ thì chỉ biết là thơ phải có vần... muốn hỏi nhanh nhanh để biết rõ thằng người có phải nhà thơ không để còn trị tội. Nhưng lại có một cái luật giời là quỷ chỉ được phép biến thành người trong một quãng thời gian ngắn nên cần phải xác định cho rõ. Vậy là cô gái quỷ phải ưỡn ẹo hỏi tiếp vào cái chủ đề chính mà quỷ đang cần biết để khẳng định:
          - Nhà anh ở đâu, có to không?
          Thằng chăn vịt đang cơn hứng và cũng muốn tỏ ra mình là nhà thơ bèn vung tay như nghệ sĩ, mắt nhắm nghiền đầu ngẩng cao ung dung uốn giọng:
          -Trời cao biển rộng ngày đêm
          Mây che làm mái, đất êm giường nằm
          Quân gia kẻ dưới hàng ngàn
          Lúc vui tiên cảnh... lúc nhàn làm thơ.
          Cô gái quỷ nghe thằng chăn vịt nói vậy thì chắc mẩm đây là nhà thơ. Vì nó nói ra là đã có vần, nhà nó to đến vậy cơ mà, gia nhân nó đông hàng nghìn cơ mà... chắc chắn thằng này là nhà thơ nhớn. Mày chết với ông. Vậy là quỷ nắm lấy lưng quần chàng chăn vịt. Thằng chăn vịt thấy buồn buồn ở lưng... sướng mê tơi nghĩ bụng: “Em cảm mình rồi.” Ôi... thì ra bốc phét vài câu mà gái đẹp phải lòng đã bày tỏ tấm tình ngưỡng mộ gửi trao.
          Đang cao hứng định bịa tiếp thì hắn mở mắt. Mở mắt nhìn mặt cô gái để mong chứng kiến sự ngưỡng mộ của người đẹp. Chợt hắn thấy cái mũi cô gái to dần, to dần lại đen sì, còn cái tai vểnh ra như lá mít và trên đầu cô gái thấy nhu nhú cặp sừng... thì phát hoảng. Chả nhẽ lại là quỷ. Quả thật Quỷ đã hết thời gian hóa thân đành hiện nguyên hình. Thằng chăn vịt thất thần tắc giọng... tính bài co cẳng chạy. Nhưng Quỷ đã giữ chặt lấy cạp quần, thằng chăn vịt ngã sóng xoài. Quỷ cũng ngã theo nhưng tay vẫn giữ chắc cái lưng quần của thằng người. Chàng chăn vịt vội vàng xoay người nằm ngửa, chuồi chân ra khỏi cái quần... rồi chạy thục mạng.
          Quỷ ngơ ngẩn tiếc rẻ, rồi cầm cái quần của chàng chăn vịt: Xem trong quần của “nhà thơ” có cái gì. Thấy cồm cộm, quỷ ta lôi ra một tờ giấy. Thấy đầy chữ. Nhưng Quỷ lại không biết chữ nên chắc mẩm đấy là “thơ” vì Nhà thơ chắc chắn phải giữ thơ ở trong túi quần. Thực ra đấy là một tờ công văn hay thông báo gì đó mà chàng chăn vịt nhặt được. Mục đích là để làm giấy chùi sau khi đại tiện, để khỏi phải dùng bằng đất mỗi khi ở ngoài đồng.
          Dẫu Giời bảo là ngu nhưng quỷ ta cũng chịu khó nghĩ ngợi. Chả vậy mà người trần thế có câu mưu ma chước quỷ. Thế là Quỷ đần mặt ngồi tập hợp các dấu hiệu mà quỷ chắc chắn đấy là nhà thơ: Ở nhà to này; có đông kẻ hầu người hạ này, lúc mơ tiên cảnh tức là chơi bời rượu chè nhậu nhẹt chân dài nhà nghỉ... lúc nhàn làm thơ: Thơ thì phải viết ra tức là phải viết rất nhiều chữ như cái tờ giấy mà quỷ vừa bắt được. Được rồi. Thế thì rất dễ tìm. Đợt này ông cho chúng mày toi.
          Thế là quỷ tàng hình đến tất cả các nhà to có gác cổng, có kẻ hầu người hạ... tìm những anh chàng hay nhậu nhẹt rượu chè chân dài nhà nghỉ để đánh dấu. Sau đó lại lượn lờ theo đuôi những anh chàng ấy để xem xét... Nếu thấy ngồi viết lách trong biệt thự nguy nga thì chắc chắn đấy là nhà thơ.
          Sau khi xác định được các “nhà thơ” rồi thì Quỷ ta lên bá cáo với Giời: Hiện nay bọn “nhà thơ” rứt là đông. Những điều chúng viết ra bị dân chúng la ó chửi bới Giời thậm tệ: nào là Giời quan liêu, nào là Giời dung túng, ngầm tiếp tay cho đám ăn bớt ăn chặn, thậm chí có người còn bảo là Giời ngu... Uy tín của ông Giời ngày càng giảm sút nghiêm trọng.
          Quỷ kết luận: Đây là bọn phá hoại.
          Nghe nhời Quỷ tâu lên, Giời tức quá. Đúng là bọn phá hoại! Ngài ban cho Quỷ Đầu Trâu “Thượng phương Bảo kiếm” truy nã bắt tất cả bọn “nhà thơ” ấy xuống âm phủ. Bắt cơ man là người. Quỷ lúc này rất bận rộn vì phải ra oai hỏi cung để trị tội. Nhưng oái oăm... bọn này không tên nào chịu nhận là nhà thơ.
          Quỷ chả hiểu ra làm sao... lại lên tâu với Giời. Giời lúc ấy đích thân xuống âm phủ xem xét.  Sau khi xem xét xong Ngài hằm hằm chỉ tay vào mặt Quỷ Đầu Trâu: Đồ ngu. Đấy chính là các quan, các chủ dự án của thiên đình... Trách nào khi vá vú cho Hằng Nga xong thì nhìn thiên đình vãn đi quá nửa. Làm gì có nhà thơ nào!
          Thế là Quỷ bị phạt. Một năm Giời chỉ cho lên mặt đất có vài ngày. Đến bây giờ hắn vẫn tức vì cái sự ấy và lầm bầm chửi “chỉ tại mấy tay nhà thơ.”
          Còn Hằng Nga dạo này vẫn xẹp lép đầu tháng, nham nhở cuối tháng... mấy ngày giữa tháng thì vơ những đám mây để che những đám vá víu trên ngực mình cho đỡ xấu hổ. Bây giờ có thách kẹo cũng chả dám nghĩ đến chuyện bơm ngực thẩm mỹ nữa.
          Các nhà thơ thật thì  đang ở nhà tôn nóng chảy mỡ, vén quần quá đầu gối củ lạc, uống rượu nút lá chuối nhắm lạc rang đang cười ha hả... khoái chí lắm.
          Và họ lại rổn rảng đọc thơ: “trăng tròn tròn, tròn như cái mâm con”
           

           
         



         



         

           
Đọc thêm!

Thứ Ba, ngày 01 tháng 7 năm 2014

VÒI RỒNG

Hai thằng đi "Diệu" về. Hai thằng hết gần hai lít. Say. Hắn ngồi sau, mình cầm lái bởi mình còn chưa thấy chóng mặt chóng mũi gì. Mình cầm lái mà thấy xe đảo như lên đồng. Thì ra thằng này say quá ngất ngư đằng sau. Mình quát:

- Ngồi im tao đưa về nhà. Giãy như điên vậy thì chết cả đôi bây giờ.

Hắn thều thào: Say ... em say... khó chịu lắm

Mình dừng xe lại ở quãng vắng, bảo hắn ra mé đường mà tháo. Hắn lảo đảo xuống xe, chuyệnh choạng ra mé đường đứng nôn khan. Rồi nước mắt giàn giụa vừa ngồi lên xe vừa bảo: "Đếch được anh ạ!"

Thế nhưng xe chạy một lúc thì thấy hắn uớ uợ vài cái. Mình nghĩ nếu dừng lại bây giờ thì nó phụt vào lưng mình chứ chả chơi. Vội thét: Quay sang bên mà phụt.

Vậy mà hắn phụt thật. Nhìn qua gương chiếu hậu thấy hắn phụt như vòi rồng... Kinh kinh là, hơi "diệu" nồng nàn...

 Mình cố phóng nhanh nhưng cái sự nồng nàn ấy vẫn đuổi theo ... nó kích thích luôn mình. Cổ họng lấp ló lấp ló đầy vơi...Vậy là phải dừng xe...chạy bộ ra vệ đường... Và mình cũng chỉ uớ uợ vài cái rồi cũng phun như thể vòi rồng.

Thằng nọ nhìn thằng kia mà kinh... rồi thi nhau phụt. Cũng may là quãng đường vắng hai bên toàn ruộng lúa

Hắn lúc này đã hoàn hồn. Rồi hắn nước mắt nước mũi giàn giụa nhìn mình cũng đang giàn giụa mắt mũi. Hắn bảo:

- Em nghĩ ra rồi, giá anh em mình có tiền thuê tàu ra Hoàng Sa, trèo lên nóc cột buồm uống cho say rồi phun sang tàu các "đòng chí" khựa... chắc chắn bọn này sẽ chạy như vịt anh nhỉ...

Hắn là Lã Thanh An.
Đọc thêm!

Thứ Tư, ngày 25 tháng 6 năm 2014

CHÍNH QUẢ



 Xin kể một câu chuyện vui vui để mọi người cùng chia sẻ:
 
Có một ông sư trên đường tu tập. Phương châm của vị này là sẽ đi các chùa để viếng thăm và học hỏi thêm các kiến thức của các vị sư chủ trì về Đạo Phật  bằng cách đặt ba câu hỏi. Nếu được trả lời thỏa đáng thì sẽ ra đi ngay, nếu câu trả lời không thỏa đáng thì sẽ ở lại chùa ấy đàm đạo để có chân lý.

  Phương pháp hỏi và trả lời trên nguyên tắc vô ngôn. Bởi vì theo lời Phật thì chân kinh nhà Phật là không có chữ (có lẽ vì vậy mà Đường Tăng lấy kinh thì được nhận toàn sách kinh không chữ... ngặt vì Đường Tăng chỉ là anh người trần mắt thịt nên mới tá hỏa đòi kinh có chữ). Hỏi bằng cách ra hiệu và trả lời cũng bằng cách ra hiệu. Tuyệt đối không nói.

 Vị sư này đi suốt ngày mới đến gặp được một ngôi chùa ở trong rừng. Chủ trì trong ngôi chùa này là hai vị sư: một đã già, một trẻ hơn nhưng chột một mắt. Hai người vốn là anh em. Khi vị sư của chúng ta đến chùa, vị sư già xin cáo lỗi bởi trong thân khó ở, vậy nên nhường sư em một mắt đàm đạo. 

Vị sư già vào trai phòng nghỉ ngơi. Chưa đầy dăm phút đã thấy khách đến chào, cáo từ ra đi mặc dù đêm tối và trước mắt là rừng rậm thú dữ. Vị sư già ngạc nhiên khi thấy trước mặt mình là vị sư khách vừa chào vừa lau miệng vì mồm bị tóe máu:

- Bạch thầy! Sao người lại đi ngay? Và vì sao miệng thầy lại tóe máu?  

Sư khách trả lời:

 - Bạch sư phụ. Bần tăng đã được sư huynh một mắt chỉ giáo đầy đủ rồi ạ!

  - ? ? ?

- Bạch sư phụ. Đầu tiên con đưa một ngón tay lên trên đầu. Ý nói trong bảy cõi thì cao nhất là Phật. Sư huynh giơ hai ngón tay ngang mày, con hiểu là không chỉ có Phật mà còn có Pháp. Con bèn giơ ba ngón tay để nói rằng Tam bảo của đạo ta là Phật- Pháp- Tăng. Thấy thế sư huynh một mắt liền nắm tay lại, đấm vào mặt con một chưởng để khẳng định sức mạnh của Phật Pháp Tăng. Phải hội đủ ba thứ ấy mới thành chính quả. Hiểu đạo như vậy là đến gốc. Vậy nên con xin phép ra đi vì đã thỏa nguyện.

 Nói đọạn sư khách chắp tay cúi chào và ra đi. Đợi khách đi xa, Sư già gọi sư một mắt lên hỏi:

 - Sư đệ cho ta biết vừa rồi đối đáp thế nào mà vị khách tâm phục ra đi ngay?

 Vị sư một mắt thưa:

 - Thưa sư huynh. Thoạt đầu thấy nó đưa một ngón tay là đệ đã cáu lắm. Thằng này láo, dám chế giễu đệ là thằng mắt chột. Đệ mới đưa hai ngón tay dọa: Đừng có mà láo, ở đây chúng tao có hai anh em, vật mày phát chết tươi đừng tưởng bở. Nó lại đưa ba ngón tay ý bảo rằng: dẫu hai người nhưng cũng chỉ có ba con mắt thì có gì đáng gọi là khỏe mà còn khoe. Đệ điên lên: Thằng này láo quá rồi. Thế là đệ nắm tay giang thẳng cánh cho một chưởng vào mặt nó đến hộc máu mồm. Vậy là nó sợ quá phải cáo từ để đi ngay...

 - Mô Phật... Bồ tát cứu khổ cứu nạn!



Đọc thêm!

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 6 năm 2014

NỢ NHÂN GIAN (truyện ngắn của Mai Tiến Nghị)

(Tiếp theo và hết)

Những tưởng lão cứ vênh vang được mãi. Vài năm sau vợ lão chết, nghề giết chó bán ở chợ chả còn ai mua vì bắt đầu có những quán cầy tơ bảy món với đủ mọi chiêu trò câu khách ra đời. Rồi hai “sĩ quan vặt lông chó” của lão sinh ra nghiện ngập cờ bạc ma tuý. Bao nhiêu tích cóp của lão dần dần biến mất vào những cuộc đỏ đen và những cơn phê phê của hai quý tử. Khi tiền cạn thì hai thằng con cũng lần lượt từ giã lão để đi về thế giới bên kia do chích thuốc quá liều. Trước khi ra đi chúng đã kịp để lại cho ông bố già một đống nợ. Mà chủ nợ toàn bọn mổ mèo lấy cá... chúng thuê đầu gấu đến nhà giơ dao siết nợ. Lão phải bán nhà để trả nợ cho con.
          Lão Viên không còn nhà, vật vạ tại lều chợ... tối tối đánh bạn với đám ăn mày. Mọi người bảo: ở với bọn ăn mày thì có khi đi ăn mày...
          Và lão đi ăn mày thật. Đầu tiên mọi người can ngăn... Lão lý sự rằng thân tôi, tôi phải lo. Mọi người chả có thể lo cho tôi được mãi, ăn mày thì nào có hại gì đến ai. Mọi người đành chịu lão bởi vì vào những năm chín mươi tự lo cho mình cho gia đình còn khó, sao có thể lo được cho người khác.
          Lão chuyển từ lều chợ vào ở cái nhà kho cũ vốn để không của Hợp tác xã từ ngày khoán ruộng. Gian ngoài cùng chứa đòn đám ma, gian giữa thì để mấy cái máy bơm hỏng. Lão tá túc ở gian tây cùng ngay sát đường xóm. Cán bộ hợp tác xã thấy tự nhiên có được người coi kho không công thì để yên cho lão ở. Mọi người thấy hoàn cảnh lão vậy cũng chả ai nỡ bì bục gì.
          Tôi ra quân và đi học nghề gõ đầu trẻ vào cái thời mà lão Viên bắt đầu sa sút. Tôi ra trường được vài năm thì được đưa ma hai thằng con lão và được chứng kiến sự nghiệp ăn mày của lão bắt đầu.
          Ngày nào cũng như ngày nào, lão Viên ra đi từ mờ sáng. Đến tối nhọ mặt người mới thấy lão thất thểu vẹo vọ về tới nơi tá túc. Bộ dạng lúc đi như thế nào chả mấy người làng được biết nhưng lúc về thì trên người lủng lẳng những dúm ni lông được buộc vào một sợi dây thừng đeo vắt vẻo trên cổ, trên vai. Mọi người gọi lão là “lão Chín Dúm”. Có lẽ áng chừng số lượng các dúm như vậy, chứ có khi còn nhiều hơn…
          Buổi tối tôi hay thể dục bằng cách đi bộ. Nhiều hôm đi ngang qua thấy lão “Chín Dúm” về. Lão thong thả gỡ cái dây treo toòng teng các loại dúm ni lông trên cổ xuống. Tôi vốn tò mò nên ghé vào xem. Lão cũng tự nhiên chả cần phải giấu, cứ mở từng dúm từng dúm... Đầu tiên là dúm gạo rồi một dúm có một ít cơm đã bốc mùi chua, dúm rau úa vàng như dưa muối, dúm vài cái đầu cá kho, dúm vài miếng thịt lợn, mấy miếng xương có lẫn những sợi miến nhão nhoẹt mà có lẽ lão vào ăn xin ở một đám cưới hay đám ma... Lão trút dúm gạo vào cái xô nhựa mẻ, các thứ khác lão cho vào những cái bát sứt sau khi đưa lên mũi hít hít để đánh giá chất lượng, có khi cơm rau dính cả vào bộ râu rậm. Cuối cùng là một dúm nhỏ chỉ nhỉnh hơn cái chén hạt mít. Lão nâng niu ngắm nghía cái dúm rồi đặt xuống đất, lần tìm trong túi lôi ra một cái kính không gọng... lão thong thả treo cái kính lên mặt bằng hai sợi dây chun. Tôi hồi hộp: vàng... chả nhẽ lão lại ăn xin được cả vàng. Sự trịnh trọng thái quá của lão càng làm tôi tò mò... nhưng lão chả để ý gì đến việc có người đang chứng kiến. Tay run run lão mở cái túi. Tôi căng mắt nhìn và không thể tin được: đó chỉ là những viên đá mạt... Những viên đá dính đất nham nhở và chỉ to bằng hạt ngô... lão đổ mớ đá ra nền nhà, chìa ngón tay trỏ cáu bẩn gạt từng viên, từng viên... đếm cẩn thận như đếm kim cương: “Một.. hai..... hai bốn... hai nhăm.... hà hà... ba mốt. Ba mốt...” Mặt lão dúm lại: “Hơi ít... ba mốt... ít hơn hôm qua”. Lão đần mặt ngẫm nghĩ một tý rồi  bốc tất cả những viên đá cho vào một đống đá mạt cũng đến gần nửa xô ở trong góc nhà. Có lẽ đấy là đống đá gom lại từ những ngày trước đó. Lão nhìn đống đá, mặt bần thần, chòm râu rung rung, cổ họng hừm hừm vài cái rồi thở dài đánh thượt. Rồi lão cúi mặt như mặc niệm...
          Quan sát mấy lần đều như vậy. Chả hiểu lão quỷ già này làm cái trò gì mà quái gở thế không biết?
          Tuyệt nhiên không thấy có tiền. Có lẽ lão giấu trong áo quần. Mà để ý làm gì. Kệ lão!  
    
          Kệ lão nhưng đâm ra thắc mắc về những dúm đá trong đám chín mười cái dúm mà hàng ngày lão tha về. Băn khoăn thì phải hỏi, bởi tính tôi không hỏi thì vẫn còn băn khoăn. Một lần tôi đi qua thấy lão đã tắm rửa quần áo sạch sẽ ngồi ở hiên, tôi ghé vào ngồi rồi đánh bạo hỏi “Bác đi như vậy liệu có kiếm được khơ khớ không”. Hỏi mà không chắc được trả lời. Trái lại, lão trả lời luôn bằng giọng thân thiện: “Cũng nhì nhằng đủ ăn mày ạ!”
          -Đi ăn mày cũng hay đấy chứ! Vậy sao ngày nào cũng thấy bác có dúm đá mạt mang về? Để làm gì vậy?
          Lão đắn đo một tý rồi nói bằng giọng khàn khàn chán nản:
          - Ôi giời. Hay ho gì kiếp ăn mày... Dưng mà có nhẽ đời bắt tao giả nợ hay sao ý mày ạ. Cũng phải thôi, có nhẽ tao sát sinh nhiều quá... giết người, giết chó... giết nhiều chó quá nên nó oán.
          Tôi lạnh người... Giết chó thì ai cũng biết. Nhưng giết người? Lão đã giết người mà không bị tù tội gì... Chưa thấy ai nói lão đã từng giết người. Thế là thế nào? Chắc là lão thuận mồm hay lú lẫn mà nói vậy thôi.
          Ngửng một lúc, lão thở dài:
          - Mày hỏi tao mang đá về làm gì ư, ôi dào sướng gì cái kiếp ăn mày. Nhục lắm! Người tốt bụng trông thấy mình thì thương hại, được nhời tử tế... mình cũng mát ruột. Nhiều người đã chẳng cho lại còn chửi bới... Đau. Trước thì cũng có bát ăn bát để... giờ thì đi ăn mày... Tao ngẫm ra mình đang phải giả nợ... Mỗi lần người ta chửi mình, mỗi lần người ta không cho... là một lần mình giả nợ đấy mày ạ. Có nhẽ đến lúc chết... Đến chết mà cũng không biết cái nợ của mình nhớn chừng nào. Vậy tao mới nghĩ ra cách cứ mỗi lần xin mà người ta chửi, người ta không bố thí... thì tao lại nhặt một viên đá mạt cho vào túi. Đá mạt thì ở chỗ nào chả có. Cuối ngày đếm lại, nếu được nhiều đá là hôm ý mình giả nợ được nhiều. Đấy tao nghĩ thế đấy.
          Tôi giật mình vì cái cách nghĩ của lão “Chín Dúm”. Thì ra ở đời khôn nhiều thì dại lắm. Mỗi lần mình bị chửi là một lần giả nợ. Kể cũng hay. Giá mà ai cũng vậy thì tốt biết mấy, mọi người sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau. Nhưng trong cõi người này chả có ai thích bị chửi, người ta chi thích được khen. Mà cái sự khen đúng thì đã đành, còn cái sự khen nịnh thì sao. Vậy thì mỗi lần nhận một lời khen lại là một lần nợ? Nhiêu khê thế cơ à.
          Từ lần nói chuyện ấy thấy ông Chín Dúm có cách nghĩ hay hay nên tôi thích. Ông cũng biết tôi thỉnh thoàng có viết lách đôi chút thì nể ra mặt. Các buổi tối đi bộ về nếu thấy ông đang ngồi ở hiên nhà kho thì tôi lại ghé vào nói chuyện. Có người bảo rằng ai lại thầy giáo lại giao du với ăn mày, rồi giao du với ăn mày thì lại đi ăn mày à. Có người thì lại cho rằng tôi tọc mạch vậy để lấy tư liệu viết văn. Còn tôi thì chả quan tâm, người ta nghĩ gì cũng chả sao.
          Một hôm ông đột ngột hỏi:
          - Mày có hay để ý nghe kèn đám ma vào buổi sáng không?
          Tôi trả lời là không. Để ý làm gì cho mệt. Với lại tôi thường ngủ dậy muộn...
          Ông Chín Dúm bảo:
          - Tao già rồi, ngủ không được mấy. Cứ ba giờ sáng đã thức nằm trằn trọc đợi sáng. Mà cái giấc ấy đất giời tĩnh lắm. Chả mấy ngày mà không có tiếng kèn đám ma ở các phía đông tây nam bắc rót về. Nghe rõ mồn một. Đầu tiên nghe kèn mà tưởng tượng mình đang nằm trong quan tài rồi bị chôn xuống đất nhá, rồi tan rữa nhá... Có lúc tao giơ tay lên nghĩ bây giờ đang sống giãy ngoay ngoảy mà chẳng bao lâu thì những đốt xương ngón tay này sẽ rụng, cái đầu cũng rụng, cái cổ cũng rụng, nói chung rụng hết chả cái nào dính với cái nào... thành một mớ lủng củng. Cũng khiếp lắm mày ạ! Và tiếc lắm mày ạ! Dù rằng sống cũng chỉ là thằng ăn mày ăn xin...
          Tôi rùng mình!
          Ông nói tiếp:
          - Ấy vậy mà nghe nhiều lại thấy quen, rồi thấy hay. Tự dưng thấy thích. Bởi vì ai mà chẳng chết, có ai thoát được đâu nào. Vậy nên tao chẳng sợ nữa mày ạ! Rồi tao lại thích chết mày ạ. Chết để xem cảm giác nó ra làm sao.
          Tôi bảo ông sẽ còn sống còn lâu. Có phải thích chết mà chết ngay được đâu. Ông gật đầu ngẫm ngợi một tý rồi bảo: “Có nhẽ vậy thật! Tao chưa thể chết được bởi vì còn phải giả nợ. Mới được lưng xô đá... bao giờ mới được hai xô. À mà này: sau này nếu tao chết thì lấy đá ấy mua thêm mấy cân xi măng làm cho tao cái bia nhá. Một cái bia vừa vừa chỉ cần hai xô đá chứ mấy. Chắc là sẽ đủ vì dạo này được nhiều hơn, có ngày được đến dăm chục viên ấy mày ạ. Chữ thầy giáo chắc phải đẹp. Nhớ nhá!”
          Ô hay, đến người ăn mày mà cũng cần một tấm bia trên ngôi mộ của mình. Và tấm bia ấy lại được làm bằng những viên đá mạt ghi dấu những lần bị người đời hắt hủi... tấm bia càng to càng nhẹ lòng vì nghĩ rằng mình đã trả được nhiều nợ cho đời. Thì ra người ta ai cũng cần một dấu ấn tồn tại sau khi giã từ trần thế, dù chỉ để đánh dấu một nấm đất lạnh lùng chẳng chút khói hương.
          Tôi vẫn thắc mắc chuyện ông “Chín Dúm” bảo là đã giết người. Hỏi mấy lần về việc ấy thì chỉ thấy ậm ừ không nói. Gặng mãi mới buột ra đúng một câu: “Ôi dà... cái thời Cải cách... lôi thôi lắm”. Có thể ông ta là người của “Đội”? Nhưng nếu vậy thì phải là cán bộ chứ đâu lại dẫn vợ con tay không chạy xuống tận xứ bùn bãi này làm gì. Hay lão là “cốt cán” đấu tố để người ta chết oan. “Nhời nói, đọi máu”... Có khi vậy thật! Bởi vì những “cốt cán” kiểu ấy sau đó thường bị người làng khinh ghét đến nỗi phải bỏ xứ mà đi.
          Mà thôi... cũng chẳng nghĩ làm gì cho mệt. Bởi người ta chả có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Vả lại tự người ta đang dằn vặt sám hối!
          Cách đây đến gần tháng, tôi đang ngủ thì bị dựng dậy vì tiếng huyên náo phía nhà kho. Cả làng nháo nhác người nọ hỏi người kia: có trộm à, cháy nhà à... Chả ai biết để trả lời... Vậy là huỳnh huych chạy như đuổi nhau đến hiện trường. Tôi cũng mắt nhắm mắt mở chạy theo. Đến nơi thấy lão Chín Dúm đang ngồi phệt giữa đường một tay bốc đất bỏ lên đầu, tay kia chỉ hướng nam, mắt thất thần, miệng gào thất thanh: “Im đi! Bảo nó im đi! Lạy các ông các bà... bảo nó im đi”. Mọi người ngơ ngác. Ai im? Ai làm sao mà phải im? Rồi tất cả im lặng ngóng về phía tay chỉ của lão và lắng nghe.
          Ở phía ấy có tiếng kèn đám ma!         

          Tôi xin phép Ban Giám hiệu nhà trường đổi tiết dạy học và phóng xe về. Đến gần nhà kho đã thấy người làng đi lại tấp nập. Có dễ gần đủ cả làng. Rẽ đám đông đang đứng vây kín trong nhà ngoài sân, tôi vào ngay chỗ ông Viên. Ông lão nằm dán mình trên giường gỗ ọp ẹp, cái thân hình cao lớn mọi ngày giờ xẹp xuống như cá khô. Mắt ông lão nhắm nghiền, khuôn mặt trắng bệch hốc hác, miệng ngáp ngáp sau hàng râu rậm rung rung. Hai tay ông ôm khư khư vạt áo sờn bên trái đã gợn thành vệt nâu bóng mồ hôi.  Anh Tý hét to bảo: “Đây rồi! Đây rồi, giáo Nghĩa về đây rồi!” Chợt đôi mắt của ông lão động đậy, mi mắt nhướng lên như cố mở ra nhưng không được. Miệng ông mấp máy, tay phải khều khoào vươn lên như vẫy vẫy, tay kia vẫn nắm khư khư cái vạt áo cáu bẩn.
          Chắc có lẽ ông lão định nói điều gì với mình. Tôi lại gần, có cảm giác mùi lạnh lạnh của người chết. Rồi thấy miệng ông lão mở ra to hơn và từ đấy có tiếng khào khào trong tiếng thở đùng đục:
          - Cố giúp tôi... không chôn nhá... phí đ...ất... Vướng mắt... mắt mọi người. Cho hê..ết... xu..ống.. sông... nhá.
          Ông lão dừng lại, mồm vẫn há, tiếng thở hực hực... tay phải vẫn giơ lên. Có lẽ ông cố lấy hơi để còn nói tiếp... Tôi cố chờ để nghe. Mọi người cũng im bặt. Không gian như lặng đi. Chả nhẽ ông già bảo bỏ ông xuống sông? Ôi chao ông lão này đến chết vẫn còn gây cho người ta những bất ngờ...
          - Cố dành... được tí để... đốt... Đốt nhá.. cả gio cả... đá... xuống s..ông   nh...á... cho mát...
          Đến đây thì tay phải ông lão hướng sang phía trái trong khi cái vạt áo bên ấy đang được bàn tay còn lại vén lên để hở khoảng bụng nhăn nheo... Khi tôi cầm lấy vạt áo định kéo xuống thì bàn tay ấy dúi dúi vào tay tôi như ra hiệu điều gì. Chắc có cái gì đang để trong vạt áo? Lục túi áo không có, tôi lần xuống gấu áo. Cánh tay ấy thả xuống ngay khi tôi lần gấu áo. Chợt thấy cồm cộm, tôi lấy ra: đó là một khoen vàng nhỏ, khoảng một chỉ...
 Chợt nghe tiếng anh Tý: “Ông cụ “đi” rồi!”   
          Tôi vuốt mắt cho ông lão. Thực ra làm lấy lệ bởi vì mắt ông lão đã nhắm, nhưng vẫn phải làm đề phòng sau khi chết một lúc có hiện tượng co cơ mắt lại mở ra. Tôi gặp những sợi lông mi rợn rợn trong lòng bàn tay. Đưa tay lên, tôi chợt thấy tay mình ươn ướt nước mắt nóng ấm.
         
                                                                                                                                               
                                                         Tuyên Quang- Hải Hậu Nam Định tháng 5 năm 2014

                                                                                             MAI TIẾN NGHỊ
Đọc thêm!

Thứ Năm, ngày 05 tháng 6 năm 2014

NỢ NHÂN GIAN (Truyện ngắn của Mai Tiến Nghị)

Báo Văn nghệ số 23 (07-6-2014) vừa đăng cái truyện ngắn của mình. Tên của truyện do mình đặt là "Trả nợ" nhưng được biên tập đổi là "NỢ NHÂN GIAN". Một cái tên rất hay rất đúng với truyện. Cảm ơn báo Văn nghệ.
Mình xin gửi tới phần đầu... phần sau sẽ đăng tiếp,  kẻo dài quá mất thời gian bạn đọc.

Tôi đang ở trường chợt nghe vợ gọi:
          - Anh về ngay! Ông Viên sắp chết…
          - Viên nào?
          - Ông Viên “Chín Dúm” chứ ông Viên nào nữa mà phải hỏi.
          Nghe vợ nhấm nhẳng mà phát bực. Thôi chả thèm hỏi nữa. Tính vợ tôi vẫn thế… nhấm nha nhấm nhẳng chả ra làm sao. Nhưng mà lão “Chín Dúm” ăn mày chết thì có ảnh hưởng gì đến mình? Nhà lão ở tận cuối xóm, thỉnh thoảng cũng gặp, cũng trò chuyện. Chẳng ra người xa lạ nhưng không thể thân. Không thể thân bởi lão nhiều hơn mình đến vài chục tuổi, càng không thể thân vì lão là ăn mày dù rằng ngày xưa lão cũng tương đối khá giả. Ngẫm sự đời thấy vỡ ra muôn nỗi buồn cười: ngày xưa không thể thân vì lão giàu, người giàu lúc ấy bao giờ cũng bị gắn cho cái mác bóc lột hoặc bất minh... mà dù có minh bạch nhưng anh giàu thì cũng đáng khinh... tại sao chúng tôi nghèo rớt mà anh lại giàu sụ? Sau này lão nghèo... thì thời đại đổi thay, mọi người vẫn khinh... vì lão… nghèo. Tôi cũng trong số người ấy. Khinh cho đến khi lão phải đi ăn mày, lúc ấy mới thương hại. Thì ra con người ta ai cũng luôn lấy cái thế bề trên để ghét, để khinh, để thương hại. Trò chuyện mấy lần với lão, thấy cũng hay hay… Lão thấy tôi để ý lắng nghe những câu chuyện của lão nên có vẻ cũng thích tôi. Chắc đó là lẽ tự nhiên bởi mình nói mà có người nghe thì thích, người nghe mà lại đưa đà bình luận một tý thì khoái, thì ra đấy là người tri âm tri kỷ. Nhẽ đời vẫn thế... Nhưng lão chết thì cứ việc chết... có ai sống mãi được đâu. Nhẩm ra lão cũng trên tám mươi tuổi rồi, cũng là thọ rồi. Ăn mày mà sống hơn tám mươi cũng là hơi quá... bền làm chi cái kiếp ăn mày! Cái lạ là sao mình phải về ngay...
          Vậy nên phải cố nhịn mà hỏi tiếp:
          - Nhưng... sao tớ phải về ngay?
          - Anh Tý bảo phải về ngay... anh ấy bảo về ngay để gặp ông “Chín dúm” thì ông ấy mới “đi” được.
          Lại còn thế nữa! Không gặp mình thì không thể chết được. Hay là qua những câu chuyện với mình, lão “Chín Dúm” thấy có điều gì bí ẩn cần phải giải toả, hay là cần nhờ vả điều gì, hay là lão muốn mình xem giờ để lão “đi” cho khỏi “trùng tang”. Mà tứ cố vô thân như lão thì “trùng” có ai để mà bắt, thông thường “trùng” chỉ bắt người nội tộc chứ bắt chi người ngoài.

          Thực ra lão “Chín Dúm” là người ở đâu nhập cư về làng tôi cũng chả ai biết và lão cũng chẳng hề nói. Có chăng mấy ông cán bộ xã ngày xưa biết nhưng các ông ấy lại chết cả rồi. Hồi sau Cải cách, khoảng năm năm bảy năm tám thế kỷ trước thấy lão dắt díu vợ và hai thằng con thò lò mũi chắc kém tôi vài ba tuổi về làng, dựng một cái lều ở góc chợ. Lão ngày ngày đi khắp các làng mua chó về làm thịt cho vợ bán ngay tại chợ.
          Lão Viên có khổ người cao lớn, bộ mặt dữ tợn, râu ria rậm rạp như tướng cướp trong phim Liên xô, lúc nào cũng thấy lão sùm sụp trên đầu cái mũ vải rộng vành màu chó gio của lính “Bảo Hoàng” thời Pháp thuộc che hết vầng trán. Đã thế lão lại đeo cái kính râm hai mắt có ốp vải bạt to bằng cái muôi múc canh sát thái dương, hình như là kính bảo hiểm của thợ hàn. Sau bộ râu là tiếng “hừm hừm” làm trẻ con phát khiếp. Ngày ngày lão chống ba toong có cuốn một sợi dây thừng đi khắp làng trên xóm dưới… lão đi đến đâu lũ chó thất thần vừa sủa oăng oẳng vừa cúp đuôi chạy bán sới. Người ta lấy lão để doạ trẻ con: “Im ngay không thì ông Viên đến bắt bây giờ!”. Thế là đứa trẻ nào gan lì nhất trong làng cũng phải nín bặt. Lão Viên rậm râu thực sự là hung thần và là nỗi ám ảnh của bọn trẻ con.
          Cái việc làm thịt chó của lão cũng khác người. Lão treo ngược con chó vào cột nhà, xẻo một miếng da ở cổ con vật đáng thương, sau đó dùng cái đũa vót nhọn khều khều trong đám gân thịt bầy nhầy để tìm động mạch… Cũng chỉ một nhoáng là lão lôi ra một sợi tròn tròn, to gần bằng chiếc đũa đang giật giật… lưỡi dao xén ngọt… máu phọt ra, lão lạnh lùng đưa cái sanh đồng hứng trọn. Dòng máu phụt ra quá mạnh gặp đáy sanh bắn ngược vào mặt kẻ sát sinh, tung toé trên nền đất... Máu chó đọng thành giọt trên râu trên má lão. Chắc là thấy vương vướng nên lão cúi xuống dụi dụi vào vai. Lúc lão ngẩng lên thì vẻ dữ tợn càng dữ tợn vì cả khuôn mặt và cả bộ râu rậm đã được nhuộm đỏ nhoe nhoét … Khi cái sanh đồng tiết đã lưng lưng là lúc con vật khốn khổ giãy giãy vài cái, rướn xương sống lần cuối cùng rồi dãn ra bất động. Nó đã chết! Nhúng cái hình hài vô hồn vào nước sôi, lão vặt lông và dùng kẹo đắng bôi đều trên da đến đỏ lịm rồi thui sơ sơ bằng rơm. Đem ra ao lấy búi kỳ cọ… lúc này kẹo đắng ngấm vào da chó trông vàng ươm như thể được thui rất kỹ. Mổ chó xong, lão dùng chày đập đến dập hết mọi thớ thịt rồi mới đem luộc. Luộc xong lão lại ngâm xuống ao khoảng vài giờ cho thớ thịt ngấm nước đến trương no... Sau cùng lão nhúng cả con chó đã no nước vào nồi nước sôi ùng ục rồi vớt ra treo lên. Bên ngoài trông con chó vừa béo vừa săn nhưng thái ra thì thịt nhũn nhèo nhèo, nhạt thênh thếch.
          Với cung cách như vậy cùng với bà vợ trắng trẻo phốp pháp khéo mồm chèo kéo chào mời nên tiền lãi của lão gấp hai, ba lần những tay đồng nghiệp khác. Dần dần phát đạt, lão lấn ruộng xây nhà làm nên cơ ngơi đàng hoàng nhất xóm. Lão phát đạt, lão giàu nên nhiều người ghét, họ gán cho lão cái tên “Viên chó”
            
          Năm bảy sáu tôi được giải ngũ sau mấy năm khốn khổ đánh nhau. Xuống xe ở thành Nam đợi xe nửa ngày trời ở  bến mà không đi được. May sao gặp ông chú đi xe đạp ngang qua. Chú cháu nhận ra nhau mừng đến rơi nước mắt. Ông chú bảo đến tối cũng không có ô tô đâu, thôi ngồi lên xe tao đèo về. Quãng đường hơn bốn chục cây số nên chú cháu thay nhau đạp xe  từng chặng. Chặng cuối ông chú bảo “thử xem mày còn nhớ lối về nhà không nào” và ông ngồi sau để tôi cầm lái. Rướn mình trên cái xe đạp cà tàng tôi hồi hộp theo từng vòng bánh xe khi về gần đến quê nhà. Làng quê cũng chẳng khác mấy, có khi còn tiều tuỵ hơn ngày mới ra đi. Phố chợ xiêu vẹo mái rạ trống hơ trống hoác càng làm nổi bật căn nhà ngói của lão Viên sừng sững ở góc chợ.
          Mải nhìn, tôi và cả cái xe đạp cùng ông chú đổ vật xuống đường. Lồm cồm bò dậy thì ngay trước mũi xe là một lão già đang nằm nhăn nhó quằn quại. Nhìn mặt thấy râu ria rậm rạp quen quen nhưng đôi con mắt thì lạ hoắc, nó nhỏ nhưng sắc lẹm đang hấp háy… có cảm giác như thể một con dao lá lúa sắc nhọn được người ta dứ dứ liếc qua liếc lại. Tiếng la oai oải từ sau cái rậm rạp của bộ râu:
          - Ối giời ôi! Chết… tôi… rồi. Ơi “các sĩ quan vặt lông chó” của bố ơ…i. Bố chết đây này. Họ đâm xe chết bố rồi. Gẫy rời cả chân cả tay rồi…
          Ông chú tôi cũng đã đứng dậy được, khập khiễng đến bên lão già vừa kéo tay lão vừa cười bảo:
          - Nào ông Viên, đứng dậy nào… xem có việc gì không! Gớm xe đạp xô vào mà như sắp chết đến nơi. Chỉ khéo ăn vạ!
          À thì ra đây là lão Viên. Vậy mà mình không nhận ra... vì bây giờ mới được thấy đôi mắt của lão. Đôi mắt mà trước đây luôn giấu sau cái kính râm có chụp vải bao quanh như kính thợ hàn. Lão gượng ngồi dậy, mặt nhăn nhó ra vẻ đau đớn... mồm xuýt xoa “Ối giời... Ối giời... đau... quá”, một tay trái nắm lấy tay ông chú tôi, còn tay phải thì quờ quạng tìm cái kính. Thực ra cái kính râm đang trong tầm tay lão vì hình như nó được quăng ra với chủ ý ăn vạ. Lão đeo kính vào, ngước nhìn người đang kéo tay... rồi đột nhiên lão đứng thẳng dậy như chẳng có chuyện gì xảy ra, mồm liến thoắng:
          - Hế hế...Tưởng ai! Hoá ra ông Chắt hử... Ông đi đâu về... ừ nhỉ về nghỉ cuối tuần hử... còn ai đây?
          Ông chú tôi giới thiệu, thế là lão vồ lấy tay tôi lắc lấy lắc để:
          - Ối giời ơi... thằng Nghĩa con nhà ông Đức hử. Quý hoá quá. Sống mà về là quý hoá quá... Có mang được cái khung xe đạp nào về không? Không hử. Thôi cũng được... còn sống là tốt rồi. Mà  bây giờ nhiều anh khôn lắm, trong ba lô có hàng cân vàng... cần gì cứ phải khung xe đạp... Thôi về nhà ngay, về ngay cho bố mẹ mày mừng. Tối tao sang chơi. Gớm cứ tưởng ai...
          Tôi đi bộ đội đánh nhau trong Nam mấy năm trời nên chả biết gì về lão Viên. Thỉnh thoảng cũng gặp đồng hương. Thôi thì đủ thứ chuyện... nhưng tuyệt nhiên không một ai nhắc nhỏm gì đến lão. Lão thừa ra trong sự quan tâm của người làng... Sau hỏi ông chú thì biết cái sự thừa ra ấy bởi lão giầu mà hai thằng con lại không phải đi bộ đội với lý do thiểu năng trí tuệ. Thì đấy hai thằng con lão có biết chữ nào đâu! Vì chúng nó chẳng bao giờ đến trường, cộng với chút quà cáp cho cánh cán bộ xã là có ngay cái cớ để nói rằng hai thằng bị thiểu năng trí tuệ. Tôi biết điều này vì lúc mười một mười hai tuổi thỉnh thoảng vẫn gặp chúng nó. Mặc dù hơn chúng vài tuổi nhưng vẫn bị chúng bắt nạt, hai đứa cậy số đông “hai đánh một chẳng chột cũng què”. Có lần tôi hỏi sao chúng mày không đi học thì hai thằng đều nói bố tao bảo học làm đếch gì, nhớn lên ở nhà giết chó. Giết chó thì không cần phải học. Đang đánh nhau rầm rầm, biết chữ lại phải đi bộ đội.

           Sao có loại người khôn róc đến thế? Khôn đến mức tự gánh chịu thiệt thòi để giữ yên mạng sống. Cũng phải... cái gì cũng đều có giá của nó. Lão không hề giấu giếm và thậm chí còn vênh vang tự hào vì cái việc ấy. Lão trêu ngươi thiên hạ bằng cách âu yếm gọi hai thằng quý tử là “sĩ quan vặt lông chó của bố”. Hai thằng này không đi bộ đội nhưng thích mặc quần áo bộ đội. Lúc nào cũng thấy đóng bộ quần ga-ba-đin Tô Châu thùng thình, áo bay, mũ cối… như thể sĩ quan, miệng phì phèo thuốc lá, chả làm gì suốt ngày nhông nhông ngoài đường, đêm vào làng tán gái và đánh nhau với bọn choai choai.

(Còn nữa)
Đọc thêm!

Thứ Ba, ngày 13 tháng 5 năm 2014

VẤN VÍT CHỈ ĐIỀU (Truyện ngắn của Mai Tiến Nghị)


Năm học mới đã bắt đầu được gần một tháng. Một buổi chiều, ông giáo Tình có khách. Một người đàn bà gày gò đội cái nón mê sùm sụp đi cái xe đạp cà tàng đến nhà ông. Đến đầu ngõ, người đàn bà xuống dắt xe rón rén đi vào. Bà loay hoay dựng cái xe vào bờ hè, bỏ cái nón xuống sân. Ông Tình ngạc nhiên:
- Ô kìa, chị Chanh! Sao bảo chị đi…
Người đàn bà nhìn ông giáo, miệng nửa như cười nửa như mếu:
- Chào thầy giáo. Đi đâu được nữa? Gần sáu mươi tuổi rồi còn gì.
Người mà ông Tình vừa gọi tên là một phụ nữ khó đoán tuổi với khuôn mặt gầy guộc và đôi mắt đùng đục mệt mỏi. Trong cái áo cánh bạc nhăn nhúm, chị co ro giữa ngày nóng nực. Trông tiều tuỵ quá. Còn đâu người thôn nữ xinh đẹp ngày xưa bao chàng trai thầm yêu trộm nhớ.
"Duyên phận ta phải chiều…này ai ơi chứ đôi chúng ta… duyên phận phải chiều…, ông  tơ hồng khéo xe mà vấn vít… cái sợi chỉ điều ai khéo xe săn...".
Bên tai ông Tình chợt vẳng lên tiếng hát ngọt ngào của chị ngày ấy. Giá mà chị không hơn tuổi. Giá mà chị không là chị họ. Giá mà ngày ấy chị đừng lấy anh Tổng ở xóm trên...
Chị bẽn lẽn:
- Người ta đồn ấy mà cậu. Tin làm gì!
Ông Tình không tin những lời đồn đại nhưng vẫn phải nghe. Tuần trước ông lên xóm trên có việc, thấy người ta kháo nhau: Vợ Công "rỗ" chửi nhau với chị Chanh. Chửi nhau to lắm. Vợ Công chửi chị Chanh vì tội lấy tiền của con nó. Rồi chị Chanh bỏ nhà đi, mặc cho chồng là anh Tổng đang nằm liệt giường chờ chết. Rồi nghe vợ Công "rỗ" bảo đi đâu thì đi chứ có về thì con mụ ấy cũng không có chỗ mà ở. Vì nhà đất là thừa kế hợp pháp của con nó. Vì  trước đây là tài sản của ông bà, ông bà truyền lại cho bác Tổng, con nó là con nuôi độc nhất của bác Tổng nên nó có quyền. Vài triệu bạc chẳng to, bà thí cho. Thí cho mà đi cho khuất mắt. Anh Tổng có làm sao thì vợ chồng nó sẽ lo tất. Không thèm đếm xỉa đến cái loại vô phúc ấy.
*
Anh Tổng có hai thằng em trai, ngoài Công "rỗ" còn thằng em út Tí "lác". Công "rỗ" học cùng lớp với Tình. Lúc còn học với nhau, chị Chanh học giỏi nhất lớp nên được thầy giáo phân công làm trưởng nhóm để kèm cặp "hai phần tử chậm tiến" là Tình và Công "rỗ". Nhà Công "rỗ" gần trường nhưng thằng này cứ bắt hai chị em phải lên nhà nó để học nhóm. Tình không hề thấy bận lòng mà còn thấy thích vì như vậy luôn được riêng cùng chị đi trên đoạn đường dài từ xóm dưới lên xóm trên nhà Công "rỗ".
Thằng Công "rỗ" nói với Tình rằng mẹ nó đã nhắm chị Chanh cho anh Tổng từ khi chị học nhóm ở nhà nó. Mẹ nó khen: "Con bé vừa giòn lại vừa ngoan. Mà cái dáng người ấy sau này mắn đẻ phải biết".        

Minh họa: Đỗ Dũng.
Mười tám tuổi chị Chanh lấy chồng. Trước hôm cưới chị nói với Tình là hai bác bảo đến tuổi rồi thì phải lấy chồng, chứ thời buổi loạn lạc này, nhỡ ra khôn ba năm dại một giờ. Vả lại chị cũng quý anh Tổng bởi anh hiền lành chăm chỉ. Và chị biết anh yêu chị thực lòng. Tình chả biết nói gì, chỉ thấy buồn mà chả biết vì cớ gì...
Cưới được bảy ngày, vừa quen hơi bén tiếng thì anh Tổng đi bộ đội. Chị ở nhà chăm sóc mẹ chồng và thằng em chồng nghịch ngợm. Bảy ngày hạnh phúc làm vợ, chị chỉ biết sự ngọt ngào của ái ân vài hôm trước khi anh đi vì trước đấy còn nhiều e thẹn đầu đời, vì còn phải giữ gìn ý tứ. Nhưng trong vài cái ngày nồng nàn ấy, thì sự cảm nhận cũng chẳng thật đủ đầy vì viễn cảnh chia ly đang đến. Đến khi anh đi rồi thì chị thấy hụt hẫng. Hàng đêm chị bần thần trước đèn viết thư cho anh. Và cũng hàng đêm chị trằn trọc nhớ cái mùi mồ hôi của anh và cả cái mùi thuốc lá anh thường hút. Tự nhiên nó trở thành mùi thơm quen.
Khi đi làm, thảng hoặc có người hút thuốc chị bỗng thấy cái mùi quen ấy của anh, nỗi nhớ cồn cào lại dậy lên hối thúc. Nhiều khi chị phải căng mình mà chống đỡ. Thà rằng chẳng biết cho xong. Và tỉnh táo hơn người nghiện, chị sợ cái mùi thuốc lá quyến rũ, nó rủ rê chèo kéo. Cách tốt nhất là lảng tránh. Thế là chị thui thủi đi về, tránh xa đàn ông, tránh xa cả những câu chuyện đùa tếu của đàn bà hàng ngày về cái "việc ấy" trong đời sống vợ chồng…
Rồi cả Tình, cả Công cũng vào bộ đội.
Cũng may mắn là chị được mẹ chồng hết sức thương yêu và thằng Tí "lác" cũng biết nghe lời chị. Đang học giở chừng thì nó kiên quyết bỏ học để ở nhà giúp đỡ chị. Đến tuổi mười tám thì nó cũng đòi đi bộ đội. Nhưng có hai lý do không cho nó đạt được nguyện vọng: Nhà đã có hai anh đi bộ đội và cái con mắt lác của nó. Vả lại, lúc đó đất nước cũng đã hết chiến tranh.
Anh Tổng trở về. Ai cũng mừng. Chị mừng đến bàng hoàng. Nhưng ngay cái đêm sum họp đầu tiên chị đã thất vọng ê chề vì anh không còn là đàn ông hoàn chỉnh theo đúng cái nghĩa vụ chồng với vợ. Chị khóc. Khóc thầm thôi. Bởi vì không ai lại dám phô ra cái nguyên nhân nghiệt ngã của sự bất hạnh đó. Anh Tổng cũng khóc, anh bảo: "Hay là chúng mình chia tay để em đi lấy chồng. Ở với anh, em sẽ không có hạnh phúc".
Chị nghĩ anh chẳng muốn như thế. Chẳng nhẽ chỉ vì không có cái "việc ấy" mà chị lại bỏ anh, bỏ người duy nhất mà chị yêu và chờ đợi. Và chị lặng im, chăm sóc anh nhiều hơn. Chị nuốt nước mắt vào trong, cố làm cho anh vui và giấu mọi người. Rồi sau đó ai cũng biết nhưng chẳng ai nói ra. Mọi người chỉ nhìn chị bằng ánh mắt nửa ái ngại, nửa cảm thông. Vậy là chị chỉ được có bảy ngày làm vợ, bảy năm chờ đợi và tiếp theo là cả cuộc đời còn lại phía trước: Chị sẽ là gì đúng nghĩa nhất? Mà chị còn trẻ lắm: mới hai nhăm tuổi.
Công "rỗ" cũng ra quân. Bà mẹ muốn có cháu nối dõi. Vì hết hy vọng nơi vợ chồng anh chị Tổng Chanh nên trách nhiệm vinh quang này được giao phó cho Công "rỗ". Hắn về được bảy ngày thì tổ chức lễ cưới. Vợ hắn người cùng làng vừa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Nhà chỉ có một buồng. Vợ chồng chị phải chuyển ra nhà ngoài nhường chỗ cho vợ chồng Công "rỗ".
Hàng đêm chị không ngủ được. Vắt tay lên trán, chị chong mắt nhìn chăm chăm lên trần màn: một khoảng trắng mờ nặng nề. Có lúc chị có cảm giác nó đang chuẩn bị đè sập xuống. Chị nghẹt thở. Rồi cố để ngủ đi được, chị đếm từng tiếng tạch tạch đều đều của cái đồng hồ. Chị sợ những tiếng cười rúc rích, những tiếng cọt kẹt, những tiếng rên rỉ ở buồng bên. Nó đánh thức những khát khao trong chị... Nhìn sang, anh Tổng đang co quắp ú ớ mê sảng. Tuyệt vọng. Chị muốn gào lên. Nhưng rồi cũng tĩnh tâm lại mà nghĩ: Anh cũng khổ lắm chứ, anh có lỗi gì đâu. Kéo cái chăn đắp cho anh mà chị trào nước mắt thương chồng và thương chính mình.
Cứ trong cái trạng thái thẳng căng tuyệt vọng như vậy, rồi cũng thành quen. Nhưng những cơn đau đầu xuất hiện hành hạ chị. Những cơn đau triền miên có khi làm chị mụ mị cả đầu óc. Chị đi khám nhưng chẳng có bệnh gì cả. Mấy bà cùng xóm bảo với chị: "Người đàn bà cứ mỗi lần đẻ là một lần thay máu. Còn trẻ mà không sinh nở gì nên nó mới như thế". Đành mặc kệ, chị sọm đi trông thấy.
Tóc bạc dần từng mảng. Chị trở thành bà già lúc nào không biết. Chị dồn tất cả vốn liếng của mình cùng mẹ chồng mua nhà mua đất cho vợ chồng Công "rỗ" ở riêng. Còn Tí "lác" cũng đã đến tuổi, chị lấy vợ cho hắn. Được cái cả hai vợ chồng hắn rất nghe lời chị và biết thương chị. Khi vợ hắn chửa, chị nói với cả hai vợ chồng Tí "lác": "Cứ đẻ đi, đẻ cả cho phần anh chị nữa. Chị sẽ nuôi cho".
Nhưng sự đời lại không chiều ý của chị. Tí "lác" ngã giàn giáo chết khi vợ hắn đang có thai đứa con đầu lòng. Vợ Tí gào thét, ngất lên ngất xuống. Chị cũng rũ rượi như người mất hồn vì cái sự ra đi đột ngột của đứa em trai chồng mà từ lâu chị đã coi như em ruột, người đã phải bỏ học nửa chừng để sẻ chia cùng chị những vất vả gia đình trong những năm tháng chiến tranh.
*
Những năm tháng buồn tẻ qua đi. Anh Tổng yếu dần. Tự dưng ở anh xuất hiện những cơn tâm thần và càng ngày càng dày hơn. Từ ngày xa con bé Hoài - con Tí "lác" - chị Chanh nhắc tên con bé thường xuyên và thường ngồi tính con bé Hoài năm nay mấy tuổi rồi, học đến lớp mấy…Hàng năm chỉ có mình chị làm giỗ cho Tí "lác". Những lúc ấy chị vừa khóc vừa khấn: "Tí ơi, em có khôn thiêng thì phù hộ cho con bé Hoài chóng lớn học hành tấn tới, cho cháu về với chị". Rồi chị Chanh tìm hỏi được địa chỉ của cô em dâu. Biết được em dâu đã đi lấy chồng và đã có thêm hai đứa con nữa, chị cũng mừng cho cô: Vậy là tốt rồi, đời nó đỡ khổ… Nhưng khi nghe tin con bé Hoài vừa lên cấp hai mà mẹ nó bắt phải nghỉ học ở nhà bế em thì chị như điên lên. Chị nhờ người vào đón cháu Hoài về. Đón được cháu về, chị định bụng sẽ làm thủ tục nhận cháu làm con nuôi để chị được làm mẹ. Rồi cho cháu đi học tiếp cấp hai. Chị mong cho nó học lên để đời nó khỏi vất vả. Để sau này mẹ con nương tựa nhau.
Cháu Hoài vừa về đến nhà thì bị ngay một trận đòn. Người đánh cháu lại là người bác ruột- anh Tổng. Chị lăn xả vào đỡ đòn cho cháu cũng bị đánh sưng cả mặt. Chả là hồi mới ra quân, anh Tổng chưa phát bệnh tâm thần nên được xã ưu tiên cho coi xe ngoài chợ. Có lần, một con bé đến mếu máo kêu đánh mất vé gửi xe. Thương con bé, nghĩ là nó thật thà, anh cho nó lấy xe ra. Ai ngờ anh bị lừa. Mất xe thì người coi xe phải đền. Anh đau đớn. Tiếc của thì ít nhưng hận cái con bé lưu manh khốn nạn kia thì nhiều. Và khi bị tâm thần thì cái sự việc ấy như đóng đinh vào đầu anh.
Trong suy nghĩ của anh thì đứa nào trạc tuổi ấy cũng là cái con bé đáng ghét đó. Rất lạ là người tâm thần lại "nhớ" rất dai. Con bé Hoài vừa vào đến nhà, chưa kịp chào bác thì đã bị đòn. Chị Chanh ra sức giải thích nhưng chẳng khác gì nước đổ lá khoai. Anh khăng khăng con bé Hoài là cái đứa ăn cắp ngày xưa! Vậy là chị phải suốt ngày canh chừng để con bé không bị đòn lần nữa.
Vừa dịp Công "rỗ" ở trên Hà Nội về qua nhà. Bây giờ hắn đã là giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng. Oai lắm, giầu lắm. Chị sang nhà hắn nói cái ý định của mình cho Công nghe. Chị cũng nói với Công: "Để cháu ở nhà tôi thì nhỡ ra anh ấy đánh chết cháu. Mà nó cũng khổ quá rồi. Hay là chú cho cháu sang ở bên này. Cho cháu đi học. Mọi phí tổn ăn học của cháu tôi sẽ gửi chú thím hàng tháng".
Công "rỗ" suy nghĩ một tí. Cái đầu kinh doanh của hắn bắt đầu xuất hiện những tính toán nhoay nhoáy. Thời cơ đến, sao mình lại không nghĩ ra nhỉ. Vậy là hắn bảo:
- Bác nghĩ vậy cũng được. Nhưng mà cái việc nhận con nuôi như thế, tôi thấy không ổn. Bác là trưởng. Cả nhà trông vào bác. Con nào cũng là con nhưng nếu nuôi thì phải nuôi con trai để thờ phụng tổ tiên. Ai lại nuôi con gái. Nữ nhân ngoại tộc. Theo tôi thế này: Hai bác làm thủ tục nhận thằng cò nhà tôi làm con nuôi. Nó là con trai, lại là "máu mủ ruột rà nhà mình". Trước sau gì thì nó vẫn phải có trách nhiệm với các bác, với cả họ. Nếu bác đồng ý như vậy thì tôi đồng ý cho con bé sang nhà tôi.
"Đứa nào cũng là máu mủ ruột rà nhà mình" - Chị Chanh đồng ý ngay. Bởi vì chị nghĩ con bé Hoài dù ở nhà mình hay nhà Công thì chị cũng lo cho nó được ăn học tử tế. Hai ngày sau thì thủ tục hoàn tất. Và cũng đúng lời hứa, con bé Hoài được về ở bên nhà Công. Còn con trai Công vẫn cứ ở nhà nó mặc dù là con nuôi của bác Tổng. Nó coi cái việc giấy tờ xác nhận nó là con nuôi do chính quyền cấp chỉ là thủ tục để có thêm điểm vào đại học. Thế thôi!
Con bé Hoài vào học được ba tháng, một hôm Công "rỗ" bảo chị Chanh: "Con bé ấy thủ tục hồ sơ sai họ. Họ nhà mình là họ Nghiêm mà nó lại mang họ Nguyễn. Nhà trường người ta chỉ cho học tạm. Bây giờ người ta trả lại hồ sơ. Thôi đành vậy. Vì tương lai của nó. Để ngoài này nuôi nó mà nó không được đi học thì nghĩ cũng tội. Thôi trả nó về cho mẹ nó để nó còn đi học". Chị Chanh buộc phải tin ngay: Trường học là cơ quan nhà nước. Người ta nói lý do như vậy chắc chắn là phải đúng.
Ôi vậy ra mình bị Công "rỗ" cho quả lừa. Làm gì có chuyện nhà trường trả hồ sơ cho bé Hoài vào miền Nam chỉ vì nó mang họ Nguyễn! Ông Tình nhớ lại lần ấy Công "rỗ" đến trường, hắn bảo: "Ông cũng bận. Tớ cũng bận. Nói ngay nhá: ông chuyển trường cho con bé Hoài vào miền Nam, chỗ mẹ nó… Chả là mẹ nó viết thư ra cho tớ nói khó khăn quá. Muốn các bác lại cho con bé vào để giúp đỡ mẹ nó. Mình nghĩ cũng phải. Con phải ở gần mẹ".
Và hắn lập tức làm thủ tục chuyển trường cho con bé Hoài vào miền Nam...
Công "rỗ" còn lừa cả chị Chanh. Khổ, người đàn bà lòng lành suốt đời chỉ ru rú ở nhà với ông chồng bệnh tật thì làm sao biết được cái oái oăm của bụng dạ con người. Chỉ cần nghe đến sai sót thủ tục hành chính là khiếp vãi. Nhưng tại sao Công "rỗ" lại phải làm vậy nhỉ? Để sau này sẽ hưởng toàn bộ thổ ngơi tài sản của bố mẹ để lại mà bây giờ anh chị Tổng Chanh đang sở hữu? Và để con hắn độc chiếm cả sự đãi ngộ công lao của anh Tổng với cái mác con thương binh nặng? Quái quỷ! Ông Tình rùng mình và tự dưng trong đầu ông hiện lên bộ mặt căng no mỡ màng với những nốt rỗ mờ mờ đang nhăn nhở của Công "rỗ".
- Đến lúc tôi biết sự thật thì cháu nó đã đi vào trong ấy rồi. Anh Tổng thì đang ốm. Tôi không thể bỏ đấy mà đi được. Lúc nào cũng nghĩ đến con bé. Chắc cháu vào đấy không được đi học. Đời tôi đã khổ, đời mẹ nó cũng khổ, chả nhẽ rồi đời nó cũng khổ nữa hay sao?
Bà Chanh gạt nước mắt. Ông Tình thấy sống mũi mình cay cay. Ông hỏi sang câu chuyện mà người ta vừa đồn đại. Vì ông nghĩ làm gì có chuyện bà Chanh lại lấy tiền của con nhà Công. Số tiền cũng chẳng phải nhỏ. Hơn hai triệu cơ mà. Chả nhẽ thằng cu ấy sang bên nhà bố mẹ nuôi rồi mất tiền bên ấy, nên vợ Công mới đổ cho là bà Chanh đã lấy? Bà Chanh cười buồn:
- Để tôi nói cho cậu mợ nghe. Tôi có nghèo thật nhưng việc gì tôi phải ăn chặn tiền của con nó. Mà thằng con nhà nó có bao giờ sang nhà tôi. Kể cả bố nuôi là bác ruột nó ốm sắp chết, nó cũng chẳng được nhời hỏi thăm. Nhưng thôi, cũng chẳng trách nó. Nó đã vào được đại học rồi. Tôi cũng mừng. Dù sao cũng là chỗ máu mủ ruột rà nhà mình. Nhưng lại càng thương con bé Hoài. Cứ canh cánh trong lòng…
Vừa rồi ông cán bộ thương binh xã hội của xã bảo tôi lên xã kê khai làm chế độ học bổng cho con thương binh theo giấy trên trường đại học gửi về. Mấy hôm sau người ta đưa tiền đến bảo tôi ký nhận. Vừa lấy tiền buổi sáng thì buổi chiều vợ chú Công sang nhà đòi tiền. Tôi cũng chưa hiểu tại sao cô ta lại có quyền đòi tiền ấy. Đồng tiền ấy là xương máu, là sức khoẻ của chồng tôi. Là cả cái sự khốn nạn của đời tôi. Tôi đã định bụng nếu con trai nhà nó về tôi sẽ đưa cho cháu. Không phải để kể công hay ban ơn với con cháu đâu, mà cốt là muốn cho cháu biết, để nó sống cho phải đạo. Tôi nghĩ vậy có sai không?
Tôi nói cái ý định ấy. Cô ta cào ra rằng tôi ăn cướp tiền của con cô ấy, rằng tôi tham lam nên mới hết phúc, nên mới không có con. Đau lắm cậu mợ ạ. Tôi đã làm gì không phải với mọi người? Chẳng qua là cái số tôi nó khổ như thế. Tôi có dám trách cứ gì ai. Nhưng cũng không ai được đem cái nỗi khổ ấy ra để nhục mạ tôi. Vậy là tôi quyết định đi vào miền Nam
- Tôi nhờ đứa cháu bên tôi sang chăm sóc anh nhà tôi - Bà Chanh kể tiếp - Tôi đi miền Nam. Vào đón cháu Hoài…
- Thế nhỡ cháu về, anh ấy lại đánh cháu như hồi nọ thì sao?
- Anh nhà tôi dạo này yếu lắm rồi. Nằm liệt từ cái hôm thím Công sang chửi. Hình như anh tỉnh ra. Có lúc anh nắm tay tôi: "Mình ơi…Khổ đời mình… Hoài… cháu Hoài", rồi khóc. Đâm ra tôi sợ. Tự dưng đổi tính đổi nết như thế…Hay là…Thế là tôi phải đi ngay, nhỡ không kịp. Vào gặp thím Tí, để nói với thím ấy cho cháu về với vợ chồng tôi. Tôi đi mất đến hơn một tuần và đã đón cháu về rồi. Hôm nay tôi sang cậu, à quên, sang thầy hiệu trưởng nói với thầy cho cháu vào học. Liệu khai giảng được gần tháng rồi, cháu nó có vào học được không. Thôi trăm sự nhờ cậu cả.
*
Hôm sau, bà Chanh đưa con bé Hoài đến trường. Con bé người quắt quéo nép vào bà, miệng lí nhí chào thầy Hiệu trưởng. Ánh mắt của nó vương những nét buồn. "Không sao đâu con ạ - Ông Tình thầm nói - Mọi việc sẽ dần qua đi và con sẽ lớn lên cứng cáp như người mẹ của mình, người mà con đang tin tưởng dựa vào". Bà Chanh dẫn con bé theo ông vào lớp. Khi con bé đã ngồi vào chỗ rồi bà còn băn khoăn gọi nó ra dặn dò nào là con phải vui vẻ với bạn bè, nào là phải nghe lời thầy cô giáo. Rồi bà đứng ở cửa lớp, ánh mắt rạng rỡ trìu mến nhìn con bé mãi cho đến khi trống vào giờ học bắt đầu.
Bà chưa về ngay mà còn vào phòng hiệu trưởng gặp ông Tình:
- Tôi vẫn còn một việc muốn nhờ cậu. Cậu đã biết đấy. Tôi đã có một con nuôi. Nay lại làm thủ tục nhận cháu Hoài làm con nuôi, không biết luật pháp người ta có chấp nhận không? Cậu thử nghĩ hộ tôi xem thế nào!
Ông Tình còn chưa biết trả lời ra sao thì bà Chanh lại nói tiếp:
- Cũng chả quan trọng đâu cậu ạ. Nếu được thì tốt. Sau này cháu nó đỡ khổ mà tôi cũng đỡ vất vả. Cháu bây giờ mới lớp sáu. Đến lúc cháu nó vào đại học thì lúc bấy giờ tôi đã già rồi, không biết có nuôi nổi con ăn học không.
Rồi bà lại trả lời luôn:
- Chả sợ. Có cháu về, tôi vui lắm. Khoẻ hẳn ra… Vả lại nếu có sao thì vẫn còn có chú Công đấy. Máu mủ ruột rà nhà mình cơ mà. Chú ấy lại giàu… Thế nào con tôi cũng phải được bằng anh bằng em. Thật đấy...  Nhờ cậu nói với cô giáo quan tâm đến cháu giúp tôi với nhé. Thôi cảm ơn cậu. Tôi về đây. Anh ấy đang ở nhà có một mình.
Rồi bà thoăn thoắt ra về với dáng điệu tự tin. Ông Tình tiễn bà ra ngoài cổng trường. Ông nhìn theo người chị họ của mình cho đến khi bà lẫn vào dòng người đông đúc Đọc thêm!

Thứ Tư, ngày 06 tháng 11 năm 2013

"QUÂN TỬ VU DỊCH" VÀ DÂN TỘC "KHIẾP"

 (Chuyện này mình đã đăng rồi... nhưng vừa có sự kiện các dân tộc ta giao lưu với dân Choang của Tàu trên VTV2 thì đăng lại cho vui)
          Trung đội mình có hai tay người dân tộc Tày Cao bằng tên là Hà Văn Tiết và Ma Văn Thắng. Các hắn rất ít chuyện trò với bọn mình nhưng được cái nết hiền lành chịu khó, anh em mang nặng thì sẵn sàng giúp đỡ, ốm đau thì cơm cháo tận tâm. Những khi chỉ mình hai hắn với nhau thì nói chuyện với nhau cả ngày không biết chán, líu lo như chim… nghe cũng vui vui.

 Đặc biệt Hà Văn Tiết còn biết tiếng Lào. Chả biết hắn học bao giờ. Hôm tiếp xúc với dân Lào ở binh trạm 32, chàng Tiết nhà ta còn hung hăng lên phiên dịch. Chả biết hắn dịch tiếng Việt ra tiếng Lào như thế nào, nhưng đến khi ông người Lào nói thì hắn dịch ra tiếng Việt như sau: “Ló bảo thế lày: Kính thưa thằng thủ tướng bộ đội‘*’ …” làm bọn mình cười vãi nước mắt nước mũi… Tiết không giận, cũng đứng nhe răng cười.

Còn Ma Văn Thắng thì cứ khăng khăng nói với mình: “Họ tao là họ Mai”. Mình bảo họ tao làm gì có thằng “ma” như mày. Một lần hắn hỏi mình: “Viết thư bằng bút bi đỏ có được không”. Mình bảo: “Được chứ sao không! Trông càng đẹp, tình cảm càng dạt dào…” Lạy giời! Vậy mà hắn viết thư cho vợ bằng mực đỏ thật. Hì hục gần buổi sáng thì viết xong thư cho vợ, đưa lên ngắm nghía rồi gọi mình đến: “Đẹp thật mày ạ! Trước tao không biết, cứ đi viết bằng mực xanh” Mình hoảng hồn vội bảo: “Tao nói đùa đấy”. Hắn đỏ mặt, xé ngay cái thư rồi hằm hằm bỏ đi.

Hôm sau hắn chửi mình: “Mày tưởng mày là người Kinh mà khôn à! Mày chê tao người dân tộc à! Tao nói cho mà biết nhá: Bác Hồ bảo Dân tộc anh hùng… chứ có bảo người Kinh chúng mày anh hùng đâu à!”

Mình xanh mặt, xin lỗi hắn rối rít. Nghe xong, hắn hì hì cười đắc ý lắm, còn móc thuốc rê cho hút.

Cả Tiết và Thắng đều rất thích văn nghệ. Mình được các hắn quý vì mình hát cũng tàm tạm và rất hay hát.

Những ngày giời mưa ở hậu cứ, hai tay Tiết và Thắng đứng ở hai đầu lán trung đội è è thổi kèn lá “giao duyên”. Buồn đến nẫu ruột mà không ai dám nói gì vì sợ các hắn giận.

Đánh nhau thì thôi, ở hậu cứ thì một tuần có một tối sinh hoạt văn nghệ Đại đội. Lính mấy chục người, quanh đi quẩn lại cũng mấy bài, hát đi hát lại. Chính trị viên Mạo, dân Bắc Ninh thì lần nào cũng chỉ có bài quan họ theo điệu “Gió đưa cây cải”. Sau thành quen, cánh mình cứ thấy Chính trị viên tham gia sinh hoạt thì đề nghị thủ trưởng hát bài “Gió đưa cây cải vào soong”.

 Còn tay Sửu người Nghệ An thì lần nào cũng khoe giọng bằng tiếng Tàu qua bài “Ra khơi nhờ tay lái vững”.

“Tá hải giang xing kháo tua sâu
Oản ù sâng tì quó thi thai dang
Uy li chứ xeng ủ mèo choàng
Càn cưa ming tâu chư mao trửa tung ti sư xẻng
Uy pu lì a lua ti quo thi hải giang
Cưa ming xỉn trung li pú khải cung sán tảng
Mao trửa tung ti sư xeng sừ púa lúa thi thai dang”.

Hắn hát nhiều đến nỗi… trong đại đội thằng nào còn sống đến hôm nay chắc cũng còn thuộc.

Lần nào mình cũng phải hát. Ít nhất là hai bài. Anh em thích lắm. Nhiều lúc mình cũng thấy râm ran, mũi phồng như cà chua…

Trong một lần, trái với thường lệ, anh em giới thiệu mình hát trước. Mình đứng lên cố tìm trong đầu xem còn bài nào mới thì hát chứ hát lại thì chán lắm. Nhớ mãi mới ra, mình hát điệu chèo “Quân tử vu dịch”, trước khi hát còn giới thiệu đây là đoạn Dương Lễ tiễn Châu Long trong vở chèo Lưu Bình Dương Lễ:

“Thiếp đâu dám quên tình đôi lứa
Tưởng những lúc mặn nồng hương lửa
Nhớ những lúc môi kề má tựa
Ngao ngán thay cảnh vợ xa chồng
Gió lạnh đêm đông, lẻ loi cô phòng
Ngày xanh mòn mỏi, vào ngóng ra trông
Trăm năm chút nghĩ đèo bòng
Xa nhau ai có thấu lòng cho ai”

Cả Đại đội lặng nghe, nhìn Thắng thấy hắn rơm rớm mắt…

Tất cả vỗ tay rầm rầm khi mình hát xong, rồi gào lên: “Hay lắm! Hay lắm… hát lại, hát lại đi…”

Mình đang định hát lại thì Chính trị viên xua tay: “Thôi! Bây giờ người khác hát…”

Sửu ta lại lên: “Tá hải giang xing kháo tua sâu, oản u sâng…”(giữa đại dương lướt sóng chắc tay chèo lái)

Chính trị viên vỗ tay, rồi còn bảo: “Vỗ tay! Vỗ tay đi các đồng chí, hát hay lắm…” Nhưng lính nghe đến thuộc rồi nên chỉ vỗ tay vài cái chiếu lệ.

Sinh hoạt văn nghệ xong thấy có lệnh triệu tập cán bộ Trung đội lên hội ý gấp. Mình đã mắc võng ngủ thì thấy Trung đội trưởng lay dậy. Đành mắt nhắm mắt mở ra theo anh ta ra ngoài.

Trung đội trưởng hỏi:

- Tối nay cậu hát cái bài ấy là có ý đồ gì?

Mình ngớ người:

- Bài hát chèo, văn công với đài Hà Nội vẫn hát. Ý đồ gì đâu!

Trung đội trưởng bảo:

- Cậu phải cẩn thận đấy nhá! Phải xác định lại lập trường tư tưởng!

Mình chả hiểu tại sao lại “phải xác định lại lập trường tư tưởng.” Nhưng không dám hỏi thêm.

Ngày hôm sau cứ canh cánh lo. Đợi trưa vắng người, khều thằng liên lạc đại đội ra hỏi. Thằng này bảo:

- Tối qua Chính trị viên triệu tập họp Ban Chỉ huy vì chuyện của mày đấy.

- Chuyện tao làm sao?

- Mày ngu, … Chính trị viên bảo xem lại tư tưởng của mày, rất có thể đã dao động tư tưởng, để kẻ địch lợi dụng. Hát như thằng phản động “ngao ngán thay cảnh vợ xa chồng” làm mất ý chí chiến sĩ.

Mình vã mồ hôi hột.

Tay liên lạc còn bồi tiếp: “Ông ấy bảo cái bài hát “Quân tử mắc dịch” là bài hát phản động. Chiến sĩ phải hát như thằng Sửu mới hoành tráng, mới khí thế chói lọi! Ông ấy giao cho Trung đội theo dõi mày đấy. Cẩn thận nhá!”

Lại được nhắc “Phải cẩn thận”. Ối giời ơi!

Tuần sau, trước khi sinh hoạt văn nghệ, Ma Văn Thắng bảo mình:

- Tối nay mày lại hát cái bài… cái bài gì mà có “i hi hi” ‘**’ ấy nhá. Tao nghe hay lắm! Tao thích lắm!

Mình bảo:

- Không dám hát nữa đâu. Vì sợ cấp trên lại bảo dao động tư tưởng.

Thắng chửi luôn:

- Tư tưởng cái con củ cặc! Sợ đếch gì. Cứ hát nhá…

Mình lắc đầu: “Khiếp rồi”.

Thắng ta bĩu môi:

- Mày á… mày đếch phải dân tộc Kinh, mày là thằng dân tộc “Khiếp”.

Ôi vậy mình bị gán là thuộc dân tộc “Khiếp”

Tối Chủ nhật vừa rồi thấy VTV có mấy tỉnh Việt Bắc tập trung hát hò. Lại thấy có cả đoàn ca múa dân tộc Choang bên Tàu sang nhảy nhót. Ối giời ơi!

Vậy là lại nhớ thằng Sửu hát tiếng Tàu bài “Ra khơi nhờ tay lái vững” của Tàu. Và rợn người nhớ câu hát:

“Ta hải giang xing kháo tua sâu…”

Rồi lại nhớ đến cái câu Ma Văn Thắng gán cho riêng mình: “Mày là thằng dân tộc “Khiếp”

 Ấy cứ lan man lằng nhằng thế. Mà sao bên Tàu nó có cả dân tộc “Choang”…


*’   Thủ trưởng đại đội
‘**’ hát chèo thường ngân “i hi hi” giữa các tiếng.
Đọc thêm!