[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Wednesday, March 4, 2015

Khi Hoa Kỳ Tăng Lãi Suất

Việt Long & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 150304
Diễn đàn Kinh tế   

Thêm một yếu tố bất ổn cho năm 2015
 
Đồng đô la Mỹ (minh họa)
* Đồng đô la Mỹ (minh họa) - Photo: RFA *  





Trong 34 nền kinh tế giàu nhất thế giới của nhóm OECD, Hoa Kỳ dẫn đầu với đà tăng trưởng cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Do đó, lãi suất ngắn hạn tại Mỹ do Ngân hàng Trung ương quyết định không thể nằm mãi gần số không kể từ năm 2008. Nội năm nay, lãi suất đó sẽ tăng và khi ấy, điều gì sẽ xảy ra cho các nền kinh tế khác? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu cùng với Việt Long và chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

 

Hậu quả cho các nền kinh tế khác?


Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, từ vụ Tổng suy trầm vào hai năm 2008-2009, Hoa Kỳ đã hạ lãi suất tới gần số không và bơm ra mấy ngàn tỷ đô la để kích thích kinh tế. Bây giờ, kinh tế của Mỹ đã hồi phục, với thất nghiệp giảm tới 5,7% cùng đà tăng trưởng mấp mé 3%, thuộc loại khả quan nhất trong khối công nghiệp hóa. Vào Tháng Năm năm 2012, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ thời đó là Giáo sư Ben Bernanke đã thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ giảm dần để chấm dứt biện pháp bơm tiền và sẽ có lúc điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Lời phát biểu ấy đã gây chấn động cho các thị trường tài chính thế giới vì ảnh hưởng rất lớn của kinh tế Hoa Kỳ. Gần hai năm sau là ngày nay, người ta chờ đợi việc Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất. Nếu điều ấy xảy ra, hậu quả sẽ là gì cho các nền kinh tế khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Như mọi khi, tôi xin khởi đầu bằng cách nhắc lại bối cảnh của vấn đề.

- Thứ nhất, vì nhiều sai lầm về chính sách gia cư khi giải tỏa điều kiện mua nhà cho dễ dàng hơn, Hoa Kỳ gây ra nạn bong bóng đầu cơ trên thị trường địa ốc làm giá nhà tăng vọt. Khi bóng bể vào năm 2007 thì nhiều doanh nghiệp đầu tư tài chính vỡ nợ và gây hốt hoảng cho thị trường giữa chu kỳ suy trầm kinh tế khởi sự từ cuối năm 2007. Sau đó, biện pháp ứng phó thông thường là tăng chi đi cùng giảm thuế vẫn không kích thích được sản xuất vì phản ứng hốt hoảng dẫn tới hàng loạt quyết định kiểm soát tài chính và hành chính. Trong hoàn cảnh đó, giải pháp sau cùng vẫn thuộc về Ngân hàng Trung ương qua biện pháp cắt lãi suất tới sàn và bơm tiền từ phương pháp gọi là "quantitative easing" với một khối lượng khổng lồ là gần bốn ngàn tỷ bạc.

Khi lãi suất tại Mỹ tăng thì các khoản vay mượn bằng tiền Mỹ sẽ thành đắt hơn và gây vấn đề cho các nước đã vay quá nhiều tiền Mỹ khi đồng đô là còn rẻ và lãi suất tại Mỹ còn hạ. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Sau đó, kinh tế Mỹ ra khỏi nạn suy trầm từ Tháng Bảy năm 2009 mà chưa hồi phục và mất sáu sáu năm vất vả mới dần dần vững mạnh. Suốt sáu năm đó, lãi suất quá rẻ và tiền quá nhiều tại Hoa Kỳ đã chảy qua xứ khác để kiếm lời với đồng đô la bị mất giá. Khi kinh tế Mỹ tạm ổn định giữa khung cảnh suy yếu của các nền kinh tế công nghiệp hóa khác thì Mỹ kim bắt đầu tăng giá và tăng mạnh hơn trong năm qua. Bây giờ, với viễn ảnh gọi là "bình thường hóa", Hoa Kỳ có thể nâng lãi suất lên khỏi số không thì các nước trên thế giới đều lo ngại.

Việt Long: Câu hỏi kế tiếp của chúng tôi là ai sẽ quyết định tăng lãi suất tại Hoa Kỳ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có hai loại lãi suất. Lãi suất cho vay dài hạn thì được thả nổi cho thị trường quyết định theo các tiêu chuẩn cung cầu, phân lời trái phiếu và mức an toàn tức là khả năng đổi giấy nợ thành tiền mặt. Lãi suất ngắn hạn thì do Hội đồng Dự trữ Liên bang tức là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ quyết định. Đây là lãi suất nền hay cơ bản, là cơ sở để các ngân hàng và doanh nghiệp tài chính tính cho thân chủ của mình. Khi tăng hay hạ lãi suất ấy, Ngân hàng Trung ương gián tiếp tác động vào sự tính toán về tiêu thụ hay đầu tư sản xuất tại Hoa Kỳ. Nhưng vì hoàn cảnh toàn cầu hóa của kinh tế thế giới, quyết định về lãi suất tại Mỹ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến xứ khác.

- Chuyện thứ hai cần nói là Ngân hàng Trung ương này là định chế độc lập, có quyền quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng theo hai tiêu chuẩn là bảo đảm sự ổn định giá cả và tạo điều kiện tăng trưởng để tránh thất nghiệp. Bên trong định chế này, một Ủy ban gọi tắt là FOMC do Thống đốc cầm đầu gồm luân phiên 12 trong 17 nhân vật có nhiều kinh nghiệm kinh tế tài chính, thường họp sáu tuần một lần để quyết định về chính sách tiền tệ và lãi suất căn cứ trên thực tế. Nhiệm vụ của họ là tìm giải pháp tốt đẹp cho kinh tế Mỹ, dù hậu quả có thể là tốt hay xấu cho các nền kinh tế khác. Các thị trường đều theo dõi lời phát biểu của các nhân vật có thẩm quyền ấy và đối chiếu với tình hình thực tế để dự đoán chiều hướng sắp tới của lãi suất cơ bản, thường được gọi là "fed funds rate", và từ đó tính ra chuyện làm ăn của mình.

- Chi tiết thứ ba cũng đáng chú ý là tuần qua, tập đoàn bán lẻ Wal Mart tại Hoa Kỳ đã quyết định tăng mức lương tối thiểu vào năm nay và năm tới. Đây là doanh nghiệp có nhiều nhân công nhất thế giới và họ dự đoán tình hình tương lai sẽ cải thiện nên đã quyết định tăng lương nhân viên để giữ lại những người có khả năng. Đấy cũng là một tín hiệu của thị trường.



000_Hkg4232516-250.jpg
Nhân dân tệ và Đô la Mỹ. Ảnh AFP  



Việt Long: Sau phần bối cảnh, bây giờ ta trở lại chủ điểm của câu chuyện là bao giờ Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất và hậu quả sẽ là gì cho các nền kinh tế khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì Ngân hàng Trung ương Mỹ trực tiếp tác động vào các thị trường nên giới hữu trách đều thận trọng trong lời phát biểu và biên bản các phiên họp của Ủy ban Tiền tệ FOMC chỉ được công bố cả tháng sau đó nên thị trường rất khó đoán trước và đoán trúng chiều hướng quyết định về lãi suất. Nói chung thì giới nghiên cứu chính sách và phát biểu của Ngân hàng Trung ương có một đồng thuận là trong năm nay Hoa Kỳ sẽ tăng lãi suất rất nhẹ, sớm là vào Tháng Sáu và trễ là vào Tháng Chín, với xác suất cao hơn cho kịch bản Tháng Chín.

- Nói về hậu quả hay hiệu ứng với thế giới thì ta cần nhìn vào hai chuyện. Thứ nhất là lãi suất tăng sẽ làm hối suất hay tỷ giá đồng đô la cũng tăng so với các ngoại tệ mạnh khác và điều ấy trực tiếp ảnh hưởng đến ngoại thương của các nước. Lý do là Mỹ kim lên giá sẽ làm hàng của Mỹ đắt hơn và khó cạnh tranh hơn và làm cho hàng nhập khẩu vào Mỹ trở thành rẻ và dễ bán hơn cho các nước xuất khẩu vào Mỹ. Chuyện thứ hai còn quan trọng hơn vậy. Khi lãi suất tại Mỹ tăng thì các khoản vay mượn bằng tiền Mỹ sẽ thành đắt hơn và gây vấn đề cho các nước đã vay quá nhiều tiền Mỹ khi đồng đô là còn rẻ và lãi suất tại Mỹ còn hạ.

 

Thủy triều rút về Hoa Kỳ


Việt Long: Thưa ông, từ những nguyên tắc kể trên mà đi vào thực tế thì tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi chú ý đến một báo cáo mới đây của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, Bank for International Settlements, thường được coi là ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương trên thế giới. Theo ngân hàng BIS này, từ khi bùng nổ vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 khiến Mỹ hạ lãi suất thì tổng số nợ của các doanh nghiệp và chính quyền ngoài Hoa Kỳ đã tăng gấp rưỡi, là 50%, để lên tới chín ngàn tỷ đô la. Người ta sở dĩ đi vay nhiều như vậy là vì tiền Mỹ quá rẻ và lãi suất tại Mỹ quá hạ nên tìm tièn Mỹ để đầu tư vào các thị trường có lãi suất cao hơn hầu kiếm lời nhờ sự sai biệt về lãi suất. Trong số này, dẫn đầu về đi vay là Trung Quốc với cả nghìn tỷ đô la.

Nếu Mỹ tăng lãi suất thì xu hướng gọi là thủy triều rút về Hoa Kỳ sẽ có đà gia tốc mạnh hơn và gây nguy cơ suy trầm kinh tế cho các nước đi vay quá nhiều mà vay bằng tiền Mỹ.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Ngày nay, nếu lãi suất tại Mỹ tăng, dù chỉ là 25 điểm cơ bản lúc ban đầu, tức là 0,25%, thì cũng khiến khách nợ là các doanh nghiệp hay nhà nước khác phải trả chi phí đi vay cao hơn chưa kể là trả với đồng đô la cao giá và hiếm hơn. Nếu các quốc gia này mà sẵn gặp khó khăn tài chính bên trong thì sẽ bị nguy nhất với ảnh hưởng lan rộng qua xứ khác.

Việt Long: Bây giờ có lẽ thính giả của chúng ta thấy ra vì sao từ cuối năm ngoái ông cảnh báo trên diễn đàn này về nguy cơ Mỹ kim lên giá. Một cách cụ thể thì tình hình sẽ như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Mặc dù nhiều người cứ nói cho vui rằng vụ khủng hoảng 2008 báo hiệu sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản hay Hoa Kỳ, thực tế thì kinh tế Mỹ vẫn là thị trường ngoại thương lớn nhất cho giới xuất nhập khẩu và thị trường tài chính sâu rộng nhất cho giới đầu tư. Vì vậy, lãi suất và hối suất tại Mỹ mà tăng thì gần xa gì cũng bị ảnh hưởng. Gần thì như thị trường gia cư tại Canada, xa thì như thị trường tư bản tại Brazil, Hong Kong hay Trung Quốc. Điều chắc là hiệu ứng lan rộng, sự khác biệt nếu có là nặng hay nhẹ tùy hoàn cảnh từng nơi.

- Một cách cụ thể thì Âu Châu và Nhật Bản, là hai nền kinh tế trong nhóm công nghiệp hoá, có lợi thế khi Mỹ kim lên giá vì đồng bạc của họ, đồng Euro hay đồng Yen, sẽ thành rẻ hơn và hàng hóa dễ xuất khẩu hơn. Nhờ vậy, biện pháp tăng lãi suất tại Hoa Kỳ có hiệu ứng gọi là tích cực hay tốt đẹp hơn. Yếu tố chuyển lực từ Mỹ qua Âu qua Nhật chính là hối suất và ngoại thương.

- Ngược lại, các nền kinh tế gọi là đang lên thì sẽ khốn đốn. Theo báo cáo rất chuyên môn của Ngân hàng BIS thì xứ nào càng có sai biệt lãi suất của mình với lãi suất của Mỹ thì càng có xu hướng đi vay bằng tiền Mỹ thay vì bằng đồng nội tệ của mình để khôn ngoan kiếm lời.

Việt Long: Hồi nãy, ông có nói rằng dẫn đầu trong các nước gọi là khôn ngoan này chính là Trung Quốc với hơn một nghìn tỷ nợ bằng đô la. Bây giờ tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãi suất tăng tại Hoa Kỳ làm Mỹ kim thêm giá thì khách nợ sẽ tốn nhiều tiền hơn để mua đô la về thanh toán một khoản nợ cao giá hơn. Đấy là quy luật.

- Áp dụng vào trường hợp Trung Quốc - và trong chừng mực nhất định dù thấp hơn là Việt Nam - thì sự thể sẽ như thế này: Các nền kinh tế ấy đều e sợ suy trầm và giảm phát nên cố kích thích kinh tế bằng cách hạ lãi suất của mình.

- Tuần qua, Trung Quốc lại hạ lãi suất, lần thứ ba trong có ba tháng. Chuyện thứ hai là nhiều bất trắc về chính trị ở tại chỗ khiến những ai có tiền đều tìm cách chuyển ngân ra ngoài, là hiện tượng ta gọi là "tẩu tán tài sản" cho dễ hiểu. Kết quả là Mỹ chưa nhúc nhích gì thì giới đầu tư ở các nơi đó đã bán các khoản nợ bằng nội tệ để mua đô la và càng gây thêm biến động cho thị trường khi họ muốn đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu của Mỹ.

- Nói vắn tắt là lượng tư bản yết giá bằng đô la trên thế giới hiện đang giảm dần và trở thành đắt hơn so với trước đây. Nếu Mỹ tăng lãi suất thì xu hướng gọi là thủy triều rút về Hoa Kỳ sẽ có đà gia tốc mạnh hơn và gây nguy cơ suy trầm kinh tế cho các nước đã đi vay quá nhiều mà vay bằng tiền Mỹ. Chúng ta rất nên theo dõi sự chuyển động đáng ngại ấy trong mấy tháng tới.

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo đã nhiều lần được đưa ra trên diễn đàn này.

Những Điềm Mất Nước



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Tuần báo Sống, ngày150303
"Vùng Oanh Kích Tự Do"

Nước mất thì ai được? Ta hay địch?

 * Tranh vui và ý nghĩa của Sống - Những con chuột xã tắc? *



Thời Bắc Ngụy bên Tầu (từ 386 đến 534), Thái Võ đế Thác Bạt Đảo (sinh năm 408, trị vì từ 424 đến 452) thuộc họ Thác Bạt của sắc tộc du mục Tiên Ti, là người ban đầu có đởm lược hùng tài.

Ông chinh phục và bình định được miền Bắc sau hơn trăm năm nhiễu nhương thời Ngũ Hồ Thập lục quốc - có 16 nước! Từ lãnh thổ rộng lớn miền Bắc, Thác Bạt Đảo tranh hùng với Lưu Tống tại miền Nam và mở ra giai đoạn "Nam-Bắc triều", kéo dài từ 420 đến năm 589. Có dông dài với chồng lịch thì mới hiểu "khi nước Tầu có loạn" là chuyện dằng dặc!


*** 


Triều Thái Võ đế có đại thần Cổ Bật nổi tiếng cương trực, không xu nịnh, dám can hoàng đế.

Thời ấy, Thác Bạt Đảo muốn xây vườn ngự uyển Thượng Cốc trên một vùng bát ngát trùm lên đất canh tác của bá tánh. Cổ Bật nhiều lần xin Võ đế cho thu hẹp phân nửa ngự uyển để dân còn đất cấy cầy. Võ đế không nghe, dù trước đó ông là người đạm bạc chẳng ưa nếp sống xa xỉ và trọng Lão giáo. Không nản lòng, một hôm Cổ Bật lại vào cung để cố xin cắt vườn thượng uyển.

Đến nơi, thấy Hoàng đế đang ngự trên long sàng đánh cờ với viên cấp sự trung là Lưu Thụ. Ván cờ đến hồi gay cấn, người người nín thở theo dõi từng nước cờ của hai kỳ thủ. Cổ Bật ngồi đợi rất lâu như kẻ chầu rìa ngoan ngoãn - mà chẳng thấy Hoàng đế ngước nhìn xuống.

Ông bèn nảy kế lạ.

Bỗng cả cung đình bàng hoàng thấy quan đại thần Cổ Bật nhổm dậy, chồm tới nắm đầu Lưu Thụ kéo khỏi giường mà vật xuống sàn. Rồi cứ thế, một tay giữ chặt vành tai Lưu Thụ, tay kia đánh tới tấp vào lưng như kẻ bật bông. Miệng mắng liên hồi: "Này Lưu Thụ, triều đình mà bê trễ công việc là lỗi ở ông!"

Trên long sàng, Hoàng đế thất kinh vội đặt quân cờ xuống: "Này! Không nghe lời tâu là lỗi ở trẫm, Lưu Thụ chẳng có tội gì cả. Buông ông ấy ra!"

Bấy giờ, Cổ Bật mới thả Lưu Thụ và quỳ gối trình bày lại chuyện thu hẹp vườn thượng uyển cho dân nhờ. Tim còn như hồi trống trận trước biến cố bất ngờ, Thái Võ đế bèn chuẩn theo lời tâu.

Cổ Bật xin xong, mặt không đổi sắc mà tự lột mũ tháo giày, đòi chân đất đi qua dinh hữu tư để nhận tội chết....

Thác Bạt Đảo bèn gọi giật: "Trẫm có nghe chuyện lấn đất của dân để xây ngự uyển là điều hại nước. Khanh làm việc cẩn trọng như vậy là ta được thần giáng phúc, chứ khanh có tội gì đâu? Phàm việc gì ích nước lợi dân thì phải cố làm, chứ đừng băn khoăn tính toán!"

Nghe xong, Cổ Bật quay lại đội mũ, đi giày và xin cáo lui. Ngần ấy tấu thư đã dâng thiên tử quả là chẳng công hiệu bằng một đòn không thủ của đô vật ngay bên long sàng!

"Nhưng bố này vừa tung thủ cấp mình vào cuộc cờ!" Khách có kẻ đứng bên thừa cơ bàn về ván cờ sinh tử của Cổ Bật. "Vậy mà ông ta ra về, cổ không rời áo. Tại sao?" Luận rồi, khách còn gặng hỏi! Đúng là quý khách đầu Xuân.

Biết giải làm sao đây? 

***

Thời xưa - mà thời nay cũng thế ở một số nơi – dù có làm quan lớn thì cũng chẳng thể mó vào cái vẩy ngược của con rồng. Thác Bạt Đảo hiển nhiên là đã rõ ý của vị đại thần tận tụy. Nhưng biết đâu chừng, ông có ưu tiên khác, hoặc chưa muốn giải quyết?

Thế rồi, trong một cuộc cờ với kẻ thân cận trên cái phản chân quỳ có khảm đầu rồng, ông đang dốc trí vào bàn cờ thì bỗng có kẻ chẳng sợ oai trời mà đùng đùng nhảy vào nắm gáy Lưu Thụ quăng xuống đất. Rồi tới tấp thụi vào lưng kẻ đang hầu cờ. Ngay trước mặt Hoàng đế!

Trong cơn thảng thốt, Thác Bạt Đảo phải lui một nước mà lên tiếng can ngăn, và cho Cổ Bật cơ hội giãi bày. Đấy là cái mưu giỡn mặt tử thần của vị đại phu.

Nhưng sau khi vuốt râu rồng, Cổ Bật lập tức biến thành con giun.

Ông tự hài tội và xin đi vào chỗ chết. Trao thân cho cơ quan hữu tư thì cũng tựa như đi vào Sở Bảo Vệ Chính Trị hay KGB của đại lãnh tụ vậy! Từ đòn cực hung ông lùi về chốn cực nhũn.

Là ông vua anh minh, Thái Võ đế không thể không hiểu ý nghĩa của cử chỉ thô bạo.

Thật ra, Cổ Bật muốn trừng phạt chính nhà vua về tội chểnh mảng công vụ, mà vì không thể bợp tai Hoàng đế, ông tẩn thuộc hạ! Lý do của hành vi kinh động này là ngôi vườn thượng uyển làm khổ dân hại nước. Thác Bạt Đảo biết vậy nên mới từ chỗ cực yếu lại dời qua thế cực mạnh: chuẩn nhận lời yêu cầu của Cổ Bật, rồi còn buông lời khen của bậc trưởng thượng - và nói lên trời. Nhờ Thần linh giáng phúc nên ta mới có trung trần như khanh!

Một vở kịch nhức tim mà có hậu!

Bề tôi đã mưu như thế thì Hoàng đế chẳng thể kém tài. Trong giây phút mà cả hai đều diễn đúng vở. Cổ Bật khỏi mất đầu, Hoàng đế chẳng mất người trung lương, dân đen lại được đất trồng trọt.


***

Khách đa sự ngồi bên bèn tấm tắc: "Nhà bác lại muốn nhắc đến dinh cơ hoành tráng và sáng loáng của gã Nông Đức Mạnh trong kia chứ gì? Mẹ kiếp! Lãnh tụ cách mạng gì mà sống như Hoàng đế thời xưa vậy... Bẩn thật!"

- Rõ nỡm! Ta rỗi hơi hay thừa đạn mà oanh kích vào đó?

Thời nay chẳng có Cổ Bật mà rặt lũ cổ rụt. Đứa nào cũng dinh thự nguy nga bất kể đến dân sống trong nguy ngập. Bầy thú thờ Tầu này chẳng nhớ lời Hàn Phi. Trong 47 điềm mất nước tại thiên Vong Trưng của bộ Hàn Phi tử thì họ đã gồm thâu quá nửa! Nói cũng bằng thừa....

***

Trở lại chuyện Thác Bạt Đảo (ta cũng gọi là Đào, với bộ hoả dưới chữ thọ), ông đã chọn Thôi Khiết làm quan Tư đồ, với vai trò như Tể tướng. 

Là người Hán, Thôi Khiết có công Hán hóa tộc Tiên Ti mà cũng gây hiềm khích với quý tộc Thác Bạt. Năm 431, Thái Võ đế còn cử Thôi Khiết cùng các văn nhân tú sĩ biên soạn bộ chính sử của nước Ngụy, với lời giặn là phải dựa vào thực tế - là viết theo lối thực lục. Chi tiết nhỏ: chúng ta cũng quen viết Thôi Khiết là Thôi Hạo.

Cuốn quốc sử của Bắc Ngụy thành hình đúng yêu cầu.

Nhưng thay vì giữ bộ sử cho hoàng thất tham khảo riêng, có người nêu ý kiến là nên... đưa lên Internet

Thời đó là khắc vào bia đá cho bá quan cùng xem. Công trình biên khảo và điêu khắc này được dựng hai bên đường gần đàn tế trời ở ngoài kinh đô. Bộ quốc sự rất thật, vì kể rõ nhiều điều nhạy cảm khi... Cách mạng chưa thành công, kể cả nhiều hành vi dâm bôn hay đa sát thời trước, khiến người dân khoái trá loan truyền khắp nơi.

Cứ như truyện họ Hồ và hậu duệ tại Ba Đình vậy!

Các gia đình công thần cách mạng của tộc Tiên Ti bỗng ốt dột! Họ bèn cáo với Võ đế. Rằng Thôi Khiết và các sử thần cố tình bêu riếu chế độ từ ba đời trước, khởi đầu với Đạo Võ đế Thác Bạt Khuê đến đương kim Hoàng thượng. Thái Võ đế nghe tâu thì nổi lôi đình, hạ lệnh bắt hết mọi kẻ tham gia ghi chép quốc sử để hài tội. 


*** 

Trong số sử thần dưới trướng Thôi Khiết có Cao Doãn, một văn quan đang làm phụ đạo, thầy dạy học của Đông cung Thái tử Thác Bạt Hoảng. Thái tử nghe thấy hoảng, bèn mời thầy vào cung nói nhỏ: "Có gì, tiên sinh cứ theo ý tôi mà trả lời và tránh nói khác thì mới khỏi tội."

Cao Doãn không là người như thế.

Trước bệ rồng, ông khẳng khái tâu bầy: "Vì quan Tư đồ Thôi Khiết bận quá nhiều việc nên hạ thần cùng mấy người khác mới là những người viết quốc sử." Thái tử Hoảng nhảy vào can mà Cao Doãn vẫn không đổi ý. "Tội không ở Thôi Khiết, mà hạ thần thì thấy sao viết vậy."

Trọng tư cách Cao Doãn, Thái Võ đế tha chết, nhưng bắt thảo chiếu thư hài tội Thôi Khiết và đòi chém cả nhà.

Vậy mà cây bút của Cao Doãn lại tắc mực! Nhiều lần Hoàng thượng phái người sang giục mà viết không ra một chữ, lại còn xin vào triều tâu lại: "Thần không rõ quan Tư đồ còn phạm tội gì khác với Bệ hạ, chứ nếu chỉ vì viết quốc sử thì đừng nên xử tội chết!"

Thái tử van mãi, Hoàng đế mới nguôi giận mà đuổi ra. 

Về tới nhà, Cao Doãn mới giải thích với Thái tử Hoảng: "Điện hạ hết lòng cứu thì tôi vô cùng cảm kích. Nhưng tôi có chấp bút vào bộ quốc sử, sao trút hết tội cho Thôi Khiết để cầu sống? Vả lại, những việc làm đúng sai của triều chính thì phải viết cho thực. Phụ hoàng có ghét Thôi Khiết về tội ưa tự đề cao thì cứ xử tội đó, chứ chẳng nên quàng vào cái án viết sử!"

Cuối cùng thì năm 450 Thái Võ đế vẫn sai chém cả nhà Thôi Khiết và mấy người thân thích. Như họ Liễu ở Hà Đông, họ Lư tại Phạm Dương, họ Thôi ở Thanh Hà và họ Quách ở Thái Nguyên. Sau này, chính Thái Võ đế công nhận là nếu Cao Doãn không thẳng thắn can gián thì có lẽ mấy ngàn người đã chết cùng Thôi Khiết!
 
Thế rồi năm 452, Ngụy Thái Võ đế cũng bị hoạn quan là Tông Ái ám sát. Còn Thái tử Hoảng thì đã chuyển sang từ trần trước đó một năm vì quá hãi sợ những cảnh chém giết ở chung quanh.

Hình như đời sau ưa gán tội đa sát cho bọn thiểu số Tiên Ti. Cứ làm như vì họ chưa được Hán hóa nên chưa thấm nhuần nét ảo diệu nhân đức của văn hóa Trung Hoa vậy! So với công trình hiếu sát của Mao Trạch Đông thì đòn phép họ Thác Bạt mới chỉ là trò tập sự.


***

Khách vẫn không tha! Cứ ngồi bên vặn hỏi như trạng sư thầy cãi: Thế còn chuyện cạo sửa lịch sử của họ Hồ và bè lũ tại Việt Nam? Tội giết người hàng loạt, hay cái tội xây dựng đài tạ nguy nga của đám hậu duệ ngày nay? Bác nghĩ sao mà không viết ra?

Viết ra cái gì? Cái điềm mất nước ư? Hiển nhiên là vậy. Nhưng chúng mất nước thì ai được? Dân Ta hay dân Tầu? Then chốt là ở đó.

Cách ngôn của ngụ ngôn: "chúng mất ngai thì dân khỏi mất nước!"
 

Tuesday, March 3, 2015

Hoa Kỳ và Israel với Hồ Sơ Iran



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150303
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Đồng Minh Trên Hai Lằn Ranh Đối Nghịch 

* Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đọc diễn văn tại AIPAC hôm Thứ Hai *



Hôm nay Thứ Ba mùng ba, Thủ tướng Israel là Benjamin Netanyahu đọc bài diễn văn tại Quốc hội Hoa Kỳ và tập trung vào hồ sơ Iran, vốn có ảnh hưởng sinh tử cho Israel. Trên bàn cân là sự tồn tại của Israel và mối quan hệ chiến lược của Israel với Mỹ. Vì nhiều người Việt có ấn tượng là Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam do sức ép của Do Thái năm xưa, đây là chuyện ta nên theo dõi....

Và bắt đầu ở những phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry.

Nhìn từ bên ngoài, ta có thể tin rằng làm Ngoại trưởng của Hoa Kỳ không là điều khó. Hôm Thứ Tư 25 tháng trước, khi ra điều trần trước Ủy ban Ngoại giao Hạ viện, Ngoại trưởng Kerry có ngôn từ thiếu ngoại giao và thừa lầm lạc khi nhấn mạnh đến hai điều. Thứ nhất, Israel nay đã an toàn hơn nhờ Hoa Kỳ đang thương thuyết với Iran về chương trình (chế tạo võ khí) hạch tâm của Tehran, một việc mà Thủ tướng Israel chống đối. Đấy là một sai lầm của Netanyahu. Sai lầm thứ hai là ông Netanyahu cũng lầm khi ủng hộ việc Chính quyền George W. mở chiến dịch tấn công Iraq năm 2003.

Về chuyện Iran, việc Mỹ cùng năm cường quốc là Anh, Pháp, Đức, Nga, Tầu (P-5 + 1), đang đàm phán với Iran về chương trình hạch tâm, với vai trò chủ động Ngoại trưởng Kerry, là điều gì đó còn bí mật nên chưa ai rõ nội dung và hậu quả. Thủ tướng Netanyahu e ngại hậu quả cho Israel vì Tehran không che giấu lập trường thù nghịch đến không đội trời chung với sIrael. Ông tới Mỹ trình bày về hậu quả đó như lời cảnh báo và đề nghị Chính quyền Obama công khai hóa nội dung đàm phán. Người Việt ta liên tưởng đến việc Mỹ hòa đàm với Hà Nội và đến Hiệp định Paris năm 1973 đối với số phận của miền Nam. Israel đang gặp hoàn cảnh đó và Thủ tướng Netanyahu còn bị Ngoại trưởng Kerry công khai đả kích là lầm!

Chuyện thứ hai là vụ Iraq, chẳng những Kerry đã sai mà còn gian. Như mọi khi.

Chính Kerry khi còn là Nghị sĩ đã ủng hộ việc Chính quyền Bill Clinton bên đảng Dân Chủ tấn công chế độ Saddam Hussein qua một thỉnh nguyện thư năm 1998. Và năm 2003, Nghị sĩ Kerry đã ủng hộ Nghị quyết tấn công Iraq dưới thời Tổng thống George W. Bush. Còn Netanyahu chỉ làm Thủ tướng Israel sáu năm sau.

Khi phê phán khả năng suy xét của Netanyahu, Kerry giấu nhẹm khả năng phán đoán của mình, mà còn coi thường khả năng suy xét của dân Mỹ. Vậy mà cũng là Ngoại trưởng! Cho nên ta chẳng ngạc nhiên khi Kerry được xếp loại Ngoại trưởng tệ nhất của Mỹ từ 50 năm qua. Đó là kết quả khảo sát ý kiến đầu Tháng Hai của The Ivory Tower Survey, một công trình hỗn hợp của tạp chí Foreign Policy với tổ chức Teaching, Research, and International Policy (TRIP).

Trở lại chuyện Israel và Iran cùng chuyến thăm viếng của Thủ tướng Netanyahu, ông được Chủ tịch Hạ viện John Boehner bên Cộng Hoà mời qua phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội mà không thông báo cho Hành pháp và lãnh đạo Dân Chủ. Chủ tịch Hạ viện có quyền hiến định như vậy, nhưng cố tình gây ra sự thất thố chính trị để cho thấy mâu thuẫn bên đảng Dân Chủ.

Trước hết, từ sáu năm qua, quan hệ giữa Thủ tướng Netanyahu với Tổng thống Obama chưa bao giờ được gọi là nồng ấm. Đây là điều bất thường khi Israel là đồng minh chiến lược và duy nhất dân chủ của Hoa Kỳ tại khu vực Trung Đông đầy khói lửa hiện nay. Thứ hai, xưa nay, cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái thường ủng hộ - và từ 70 đến 80% vẫn chi tiền cho phe Dân Chủ. Lần này, họ phân vân về lập trường của Obama đối với quốc gia Israel. Có lẽ Chủ tịch John Boehner thấy ra điều ấy nên ngỏ lời mời Thủ tướng Israel.

Ông Netanyahu chọn thời điểm này vì sẽ phát biểu trước hội nghị thường niên của AIPAC (American Israel Public Affairs Committee), tổ chức vận động có thế lực của người Mỹ gốc Do Thái, hôm sau mới vào Quốc hội Mỹ. Khi trở về, ông còn có cuộc bầu cử ngày 17 tới đây.

Netanyahu quả là cố tác động vào công chúng và chính trường Mỹ để bảo vệ quyền lợi Israel và vị trí của đảng Likud do ông đang lãnh đạo. Mục tiêu có thể là để thuyết phục dư luận cùng các dân biểu nghị sĩ Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của Israel để Quốc hội Mỹ có đủ túc số hai phần ba mà vượt qua quyền phủ quyết của Tổng thống khi biểu quyết đạo luật The Nuclear Free Iran Act (Đạo luật chống Hạch tâm tại Iran) với đề nghị gia tăng mức cấp vận nếu Iran không chấp hành sự cam kết khi đàm phán về kế hoạch hạch tâm.

Như năm 2012, AIPAC và Netanyahu cùng vận động Quốc hội Mỹ trừng phạt Ngân hàng Trung ương của Iran để gây sức ép. Hành pháp Obama chống lại quyết định ấy mà không nổi và nay lại viện dẫn là nhờ Ngân hàng Trung ương của Iran bị phong toả mà Tehran phải đàm phán!

Những chuyện rắc rối ấy đưa ta đến câu hỏi thật trong truyện dài Hoa Kỳ - Do Thái.

Nhiều người lý luận là tài phiệt Do Thái có thể làm mưa làm gió trong nhiều lãnh vực sinh hoạt của nước Mỹ, từ khoa học, nghệ thuật, điện ảnh đến kinh doanh và nhất là chính trị. Sự thật lại chẳng đơn giản như vậy. Chính giới Mỹ chỉ có thể bị Do Thái vận dụng hay lợi dụng nếu Israel làm Hoa Kỳ lấy những quyết định có lợi cho họ mà có hại cho quyền lợi của nước Mỹ. Điều ấy chưa từng xảy ra từ khi quốc gia Israel được tái thành lập vào năm 1948 tại khu vực Palestine.

Ngược lại, đã có thời Israel ngả theo Liên bang Xô viết và bị Mỹ gây áp lực rất mạnh. Mâu thuẫn ấy đang tái diễn khi Chính quyền Obama có chủ đích riêng với Iran khiến Thủ tướng Israel chạy qua vận động cả người Mỹ gốc Do Thái lẫn chính trường Hoa Kỳ – mà chưa chắc đã thành công.

Nhìn từ bên ngoài, ta nên kết luận rằng Hoa Kỳ hành xử vì quyền lợi của mình và các đồng minh của Mỹ đều phải hiểu ra điều ấy mà tự chuẩn bị. Và dù có ảnh hưởng của dân Do Thái tại Mỹ, Israel vẫn có lúc bẽ bàng!

Chúng ta hiểu ra điều ấy nếu theo dõi tuần báo The New Republic đầy uy tín. Tờ báo này thuộc loại trí thức khuynh tả, thiên về Dân Chủ, mà có lập trường kín đáo ủng hộ Israel chứ không bảo thủ và lộ liễu như tờ Commentary. Trong đòn vận dụng này của Netanyahu, tờ TNP cố nín thinh!

Nhìn rộng hơn ra ngoài, và khỏi tập trung vào quan hệ giữa Israel với Mỹ, ta thấy vị trí then chốt của Iran với ảnh hưởng rất lớn tại Iraq và Syria, trên các tổ chức Hồi giáo cực đoan, từ al Qaeda tại Trung Đông tới Hezbollah tại Lebanon, Hamas trên Dải Gaza và cả lực lượng Huynh đệ Hồi giáo Muslim Brotherhood tại Egypt. Iran giữ vai trò bản lề làm nhiều đồng minh khác của Mỹ e ngại. Trong hoàn cảnh đó, chiến lược của Chính quyền Obama với Iran là gì thì vẫn là ẩn số hãi hùng. Chưa khi nào Hành pháp Mỹ nói rõ chủ trương của mình về chuyện đó. Cũng mơ hồ như chiến lược của Hoa Kỳ với lực lượng khủng bố ISIL đang tung hoành khắp nơi...

Đấy mới là điều đáng ngại, dù có Do Thái hay không!

________________________

Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ

Một ngày sau khi Ngoại trưởng John Kerry khẳng định là chưa khi nào nước Mỹ lại an toàn như bây giờ - ngoài mối nguy từ nạn nhiệt hóa địa cầu - thì hôm Thứ Năm 26, Giám đốc Tình báo Quốc gia DNI là ông James Clapper lại trình bày trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện một sự thể khác về mối nguy cho toàn cầu và riêng cho Hoa Kỳ xuất phát từ nạn khủng bố. Có vai trò phối hợp hoạt động của 16 cơ quan tình báo quân sự và dân sự Mỹ, ông Clapper nói gọn rằng năm 2014 bị nạn khủng bố mạnh nhất kể từ 45 năm qua. Hình như hai nhân vật của cùng một chính quyền Obama lại nói về hai thế giới trái ngược! May là Hoa Kỳ có Quốc hội để công chúng thấy ra mâu thuẫn đáng ngại này....

Saturday, February 28, 2015

Tiếng Kêu Tết Mậu Thân Huế 1968



Nhã Ca - Đại học UC Berkeley Ngày 150225


Những người Huế từng bị tàn sát Tết Mậu Thân xứng đáng được tưởng niệm.















* Từ trái, Giáo sư Olgar Dror của phân khoa Lịch Sử tại Đại học Texas A&M University, đồng thời là dịch giả sách “Mourning Headband for Huế” đang thuyết trình về trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, với hình ảnh những hầm chôn người tại Huế xuất hiện trên màn hình. Trên bàn thuyết trình là Giáo sư Peter Zinoman của Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á thuộc Đại học U.C. Berkeley và nhà văn Nhã Ca, tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế tại Huế”. *
 


Kính chào quí vị,

Hôm nay, với người Việt chúng tôi, vẫn còn là ngày Tết. Mùng Bảy Tết. Xin chúc tết theo truyền thống Việt Nam: “Kính chúc tất cả quí vị một năm mới Ất Mùi an lành.”

Và xin cám ơn UC Berkely. Cám ơnm Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á; Cám ơn Giáo sư Peter Zinoman và quí vị trong ban tổ chức.

Giáo sư Olga Dror, nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn hoá lịch sử Việt Nam, đã trình bầy đầy đủ về biến cố Tết Mậu Thân và "Giải Khăn Sô cho Huế." Cám ơn Olga.

Thưa quí vị và các bạn,

Là người viết văn thường viết khi một mình, tôi chỉ quen viết, không quen nói. Sẽ không bao giờ có thể là diễn giả. Bài nói chuyện này được viết trước. Tôi viết tiếng Việt và nói bằng "văn viết".


Tiếng Kêu Tết Mậu Thân

Hình như mỗi người đều có cuốn lịch riêng của mình, trong nhà hoặc trong đầu. Tôi biết mỗi tờ lịch có câu chuyện của nó, cả chuyện hôm qua, hôm nay, lẫn ngày mai. Câu chuyện của từng tờ lịch trong cuốn lịch chung được gọi là lịch sử.

Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến dài nhất của lịch sử Hoa Kỳ trong thế kỷ 20. Cuộc chiến ấy có cái bóng dài hơn là chính nó. Đó là cái bóng của trận tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968, do phía cộng sản thực hiện. Với những hầm chôn người và hàng ngàn thường dân Huế bị tàn sát, cái bóng oan khiên ấy ngày càng được nối dài. Dài hơn một trận đánh. Dài hơn cả cuộc chiến. Chưa biết đến bao giờ mới ngừng.

Là người sống sót từ trận chiến Tết Mậu Thân, tôi viết "Giải Khăn Sô cho Huế". Đây không phải tiểu thuyết hư cấu. Cũng chẳng phải văn chương thơ phú. Chỉ là chuyện thật, chuyện chạy bom chạy đạn. Chuyện mình, chuyện người. Mắt thấy tai nghe. Có sao viết vậy. Chỉ là những mảnh vỡ của một thành phố tan tác trong cảnh hỗn mang giữa máu lửa, chết chóc. Giáo sư Olga Dror gọi chúng là những "hình ảnh tức thì" của cuộc sống bị hủy hoại và vỡ nát. Bà "nghe" thấy tiếng nói từ loại hình ảnh này.

Là một trí thức Do Thái được sinh ra và lớn lên tại Nga từ thời Sô Viết, bà Olga đã rời khỏi đất nước này khi Liên Bang Xô Viết còn là một siêu cường. Hơn 10 năm sau khi chế độ Xô Viết đã sụp đổ, Giáo sư Olga Dror có dịp trở lại nước Nga. Năm 2012, trong một cuộc hội thảo về kinh nghiệm quan hệ giữa nước Nga và Việt Nam tổ chức tại Moscow, Olga thuyết trình về đề tài "Trận chiến Tết Mậu Thân tại Việt Nam và cuốn sách Giải Khăn Sô cho Huế." Nhưng nước Nga hậu Xô Viết vẫn không hề khác 25 năm trước. Thái độ của cuộc hội thảo với đề tài này là chỉ có thể đề cập tới "tội lỗi của phía Mỹ" trong trận chiến. Mọi lý lẽ khác bị dập tắt.

Olga kể là sau đó, ngay chính trên đất Nga chứ không phải đâu khác, bà thấy mình quyết tâm hơn bao giờ hết, trong việc phải bảo vệ thứ tiếng nói từng bị vùi dập trong chiến tranh. Olga còn cho biết nguồn sức mạnh khích lệ bà trong quyết tâm này là những chuyện mà ông bà nội của bà đã phải chịu đựng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến tại thành phố St. Petersburg.

Năm 2012 là lúc người dịch và người viết "Giải Khăn Sô cho Huế" bắt đầu liên lạc làm việc với nhau. Nhưng khi sự việc trên đây xẩy ra, tôi không hề biết gì. Khi đó chúng tôi chưa quen nhau. Tôi không biết cuốn sách "Giải Khăn Sô cho Huế" đã cùng đi với Olga tới nước Nga ra sao. Chỉ biết Olga Dror là vị học giả uyên bác, người viết về Bà Chúa Liễu Hạnh của Việt Nam, một công trình nghiên cứu mà chúng tôi khâm phục. Ba năm liên lạc thư từ cùng làm việc, đã coi nhau là bạn, nhưng chỉ khi công việc đã xong, cầm cuốn sách anh ngữ trên tay, đọc bài của Olga, tôi mới biết chuyện này.

Điều mà Giáo sư Olga tìm thấy trong cuốn sách Giải Khăn Sô cho Huế, là "tiếng nói của người dân trong chiến tranh." Bà nói cuốn sách là cái nhìn cuộc chiến không qua cặp mắt của người lính hay chính trị gia, bình luận gia, mà qua cặp mắt của người dân không phe phái. Nó mô tả kinh nghiệm của những người dân bình thường.

Sau khi liệt kê đầy đủ và đối chiếu với các loại quan điểm khác nhau về trận chiến đã được nói lên từ nhiều phía, nhiều nơi, nhiều nước, Olga nhấn mạnh "Mourning Headband for Huế" là quan điểm, là tiếng nói đích thực của người dân miền Nam Việt Nam. Với nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam, tiếng nói này hoàn toàn bị cấm kỵ. Tác giả từng bị bắt bỏ tù, cuốn sách từng bị đóng đinh và cho tới nay vẫn tiếp tục cấm đoán. Ngay tại Hoa Kỳ, tiếng nói của người dân miền Nam cũng chưa từng được lắng nghe. Sách viết về chiến tranh Việt Nam hầu hết đều phát xuất từ miền Bắc Cộng Sản.

Olga cũng nói đọc Nhã Ca trong Giải Khăn Sô cho Huế, có khi người ta nghe tiếng la thất thanh, tiếng kêu gào tới mức không còn ra tiếng nữa. Tôi biết đó là tiếng kêu từ Huế Tết Mậu Thân. Tiếng kêu của người dân miền Nam trong cuộc chiến.

Hôm nay, lần đầu tiên. tiếng kêu ấy được mang đến U.C. Bekerley.

Nhờ buổi họp mặt này, hai chị em chúng tôi được gặp nhau lần đầu. Cuốn sách chúng ta có hôm nay không chỉ là bản dịch. Phần chính của sách là công trình nghiên cứu nghiêm túc của Giáo sư Olga về tiếng nói của người dân trong trận tấn công 1968. Giải Khăn Sô cho Huế và Nhã Ca, với hàng trăm chú giải chi tiết kèm theo bản Anh ngữ do Olga thực hiện, chỉ còn là đề tài của công trình nghiên cứu.

Tha lỗi cho tôi, Olga.

Tôi đã đẩy sang vai bạn phần lớn gánh nặng.

Bạn đã lãnh dùm việc nhìn lại toàn bộ trận chiến Tết Mậu Thân tại Huế. Bạn cũng đã giới thiệu quá đầy đủ về cuốn sách, tác giả và tác phẩm. Phần tôi, chỉ xin góp thêm chuyện bên lề, lan man không thứ tự. Bắt đầu bằng...

 
Ký ức một thời về chiến tranh, khủng bố

 
Tôi ra đời cùng lúc với cuộc Đại Chiến Thế Giới lần thứ hai. Huế thời đó còn là kinh đô của các ông vua triều Nguyễn, nhưng cả nước đã trở thành thuộc địa của Pháp.

Năm 1937, quân Nhật tiến chiếm nước Trung Hoa rồi tràn vào Việt Nam kéo theo bom đạn của thế chiến.

Từ thủa còn bé thơ, hai ba tuổi, tôi đã biết nếm mùi chiến tranh, bom đạn, nhà cửa bị đốt cháy, cả nhà phải chạy loạn, đi tản cư trên những chiếc ghe, người lớn chèo trối chết, thuận hoặc ngược dòng sông để lánh nạn.

Năm 5, 6 tuổi, có lần theo lũ trẻ chơi đùa trên sân đình làng quê, thấy một bãi máu nhuộm đỏ từ gốc cây sung, bọn trẻ chạy theo, lên thềm đình. Xác một người đàn ông bị cưa ra làm 3 khúc. Đầu treo trên cây, thân nằm giữa sân và tay chân sắp trên thềm đình. Người bị giết là một thợ rèn, hiền lành. Việt Minh giết.

Năm tôi 9 tuổi. Tại Huế, Việt Minh cướp chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị, con đường Nam Giao của Huế, nơi có nhiều vườn chùa êm ả bỗng dấy lên nhiều cảnh kinh hoàng. Lúc đó, tôi học ở một trường tiểu học tên là trường Nam Giao. Sáng sớm, mấy bạn trong xóm rủ nhau đi học, bọn con nít chúng tôi thường kinh hoàng la hét, khi thấy một cái đầu bị cắt đứt lìa từ cổ để trong một cái rổ tre với một miểng giấy ghi của Việt Minh lên án Việt gian. Có khi đầu lâu hay thân người, hay cánh tay, đùi chân đặt trên cái rá, cái thúng. Có người tứ chi bị cắt rời, thân bỏ vào bao bố, đầu để ra ngoài, hai con mắt mở trừng trừng, miệng còn dính máu đông, rất hãi hùng.

Nhưng rồi... có một lần, bạn tôi không la, không hét, không xô đẩy. Mà cũng như thấy xung quanh không hề có ai. Cũng không nhấc tay, dợm chân. Bạn đứng sững. Tuy còn là một đứa nhỏ, nhưng tôi biết "đứng như trời trồng" là lúc bạn đứng đó. Hai cái đầu được bày trên hai cái nón lá chính là ba và mẹ của bạn. Bạn ra sao lúc đó? Bạn cứ đứng vậy. Hai mắt bạn cũng trắng dã, trợn trừng như bốn con mắt không thể nhắm của ba mẹ bạn.

Tôi cũng đứng như vậy. Không nhấc nổi tay chân. Không mở miệng. Sau đó, người ta xua đuổi bọn con nít đi. Tôi lạc mất bạn.

Và rồi, Tết Mậu Thân 1968, chuyện tàn sát tập thể bằng cách chôn sống đã diễn ra tại Huế. Hàng ngàn dân Huế bị chôn ở Thành Nội, ở Gia Hội, ở Bãi Dâu, ở Phú Thứ, ở khe Đá Mài... Không chỉ trong núi trong rừng, nơi họ bị chôn còn là đất chùa, đất nhà thờ, đất trường học, và ngay tại vườn nhà.

Trong số những người bị chôn có chị Tâm Tuý, cô bạn trường Đồng Khánh của tôi. Khi xác được đào lên, thấy tóc mọc dài hơn, móng tay mọc dài hơn. Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống, như nhiều nạn nhân khác.

Trong cuộc hưu chiến đêm giao thừa mùng một tháng Giêng Tết Mậu Thân, nhằm ngày 29 tháng Giêng 1968, các đơn vị cộng quân - gồm cả quân chính qui Bắc Việt và dân quân địa phương - lặng lẽ tiến vào Huế, kiểm soát được khu Gia Hội trong 20 ngày. Chỉ trong thời gian ngắn ngủi này, có tới 473 người Huế bị chôn sống.

Tiếng kêu Tết Mậu Thân từ "Giải Khăn Sô cho Huế" mới chỉ là những ghi nhận đầu tiên. Còn hàng ngàn tiếng kêu khác bao năm qua vẫn liên tục cất lên, ngay trên đất Hoa Kỳ. Xin kể một trường hợp mà chính tôi biết rõ: Ông Võ Trang, 56 tuổi, cư dân San Diego, một kỹ sư điện đang làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ tại đây, hồi tưởng việc bố của ông được mời đi "họp" chỉ 2 ngày trước khi quân đội quốc gia tái chiếm thành phố Huế. Ngày ấy, ông còn là một thiếu niên 15 tuổi. Sau đây là đoạn trích do ông Võ Trang viết:

"Trong khi tôi đang ngồi cạo chiếc ghế xích đu cũ để sơn lại thì bỗng có người vỗ vai tôi và hỏi nhẹ "Em ơi! Có ba ở nhà không?" Tôi bàng hoàng quay lại. Hai người, một dân quân áo bà ba quần cụt, một chính quy với dép râu và quân phục, nón cối màu vàng. Tôi hỏi lại họ muốn kiếm ai thì họ nói tên ba tôi rõ ràng. Chị giúp việc mà gia đình tôi vừa thuê vài tháng trước đã mở cửa sau cho họ. Tôi vào kêu ba tôi trong hầm giã chiến. Hết đường chạy rồi! Phòng chỉ có một cửa ra vào thì họ đã đứng chận. Ba tôi mặt tái xanh và không nói gì nữa. Trong hầm còn có một người em trai của me tôi, là một cảnh sát viên, đã khuyên ba tôi nên đi ra để họ khỏi xông vào bắt thêm những người họ không dự định. Me tôi đưa thêm chiếc áo len cho cho ba tôi mặc vào. Người anh thứ hai của tôi chạy theo xin đi thế nhưng họ không cho. Hôm đó là ngày 19 âm lịch tháng Giêng năm Mậu-Thân...

"Khoảng hơn một tuần sau, các hầm chôn người tập thể nằm phía sân sau của trường Tiểu Học Gia Hội được phát hiện. Xác người khi được khai quật, tuy chưa bị rữa nhưng đã sưng phồng lên và bốc mùi.

"Cái thây người được kéo lên để nằm ngửa người trên một u đất, miệng há hốc, mặt đen xám và dính đầy đất, hình ảnh mà cả cuộc đời tôi không bao giờ quên. Đó là ba của tôi. Những chứng cớ không thể chối cãi. Chiếc áo có vẽ 4 cái đầu của ban nhạc "The Beatles" bên ngực trái, là chiếc áo độc nhất vô nhị của anh tôi mà ba tôi rất thích. Hai chiếc tất (vớ) thêu lủng lỗ mà anh em chúng tôi đều biết được chia đều vào 2 túi quần. Rõ ràng là dấu hiệu ba tôi để lại cho gia đình nhận diện. Tôi không biết ba tôi đã vật vã như thế nào vào giờ phút đó nhưng me tôi và các anh em tôi thì vẫn đau đớn cho đến bây giờ...".

Võ Trang cho biết trong số người bị chôn có cả cô gái 19 tuổi ở cách nhà ông 2 căn. Người anh là một cảnh sát viên vắng mặt nhưng có tên trong danh sách được mời, cô em thay thế anh "đi họp"!

Và kể thêm: "Thảm sát tập thể như thế này cũng đã xảy ra ở Sịa, vùng quê gần Huế, vào năm 1947. trước khi rút lui vì nghe tin quân Pháp sắp trở lại, cộng sản kêu gọi dân chúng đi đào hầm chống Pháp. Những hầm này thật ra chính là những hầm chôn tập thể chỉ trong vài ngày sau đó. Theo lời chú tôi kể lại họ đi bắt người cả ban ngày và ban đêm. Ông Cố Nội của tôi, đã 70 tuổi cũng đã bị bắt đi vào ngày 17 tháng 2 nhằm ngày 20 Tết Âm Lịch. Lúc đầu người ta phát giác xác anh TH., một nhân vật có võ được biết trong làng, chết bên vệ đường với nhiều vết chém, đứt cả bàn tay. Rồi lần theo vết máu người ta tìm đến những hầm chôn người tập thể trong đó có cả Ông Cố Nội của tôi và em của Ông. Những vết cắt cho thấy họ bị chặt đầu bằng mã tấu! (1).

Và Đêm Huế 1970. 

Hai năm sau trận chiến Mậu Thân, họp mặt ra mắt sách "Giải Khăn Sô cho Huế" lần đầu tại Sàigòn, với sự hiện diện của Hoà thượng Thích Trí Thủ, vị đại sư huynh của các nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam. Sau đó toàn bộ số thu từ cuốn sách được mang về trao tặng trường trung học Đồng Khánh và Đại học Y Khoa Huế. Chuyến đi Huế lần này có sự tham dự của Linh mục Cao văn Luận, viện trưởng sáng lập Đại học Huế, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, các nhạc sĩ Phạm Duy, Cung Tiến.

Tại Huế vào thời điểm này, dân chúng ngày ngày đang lùng kiếm đào bới các hầm chôn người do cộng quân để lại, thành phố đổ nát đầy tang tóc. Đêm Huế 1970 cho tôi những hình ảnh nhớ đời.

Một buổi chiều, với chiếc xe Volkswagen, chúng tôi sang Thành Nội. Đây là chiếc xe của ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick để lại trong chung cư y khoa sau khi bị cộng quân bắt đi. Ông bà cùng hai vị bác sĩ người Đức khác là Raimund Discher và Bác Sĩ Altekoester là bốn bác sĩ người Đức sang giúp trường Y khoa Huế từ 1960. Cả bốn vị đều đã bị cộng quân bắt đi xử bắn.

Tại Thành Nội, chúng tôi có buổi ăn tối với các bạn ở trường Âm Nhạc Huế. Đây là nơi trú đóng của cộng quân trong cuộc giao chiến. Trong khu vườn nhà trường, có con mương dẫn nước chạy qua. Lúc đứng ở sân, người vợ của anh bạn giám đốc trường nhạc chỉ tay vào cái mương, nói là sau khi Việt Cộng đã rút chạy, anh chị trở lại đây, thấy xác binh sĩ Việt Cộng nằm chết xếp lớp dày đặc trong con mương.

Người chết không còn oán thù, có một mâm cơm, một bát nhang bày ở đó.

Trên đường lái xe về, trong đêm Huế thê lương đâu đâu cũng thấy bầy bàn thờ nhang khói, chúng tôi có ngừng lại thăm một ngôi nhà có người cha người anh đã bị cộng sản chôn sống tại Gia Hội. Con em trong nhà mang áo xô gai, thay nhau cầm bó đuốc chạy quanh gốc cây trước nhà. Theo niềm tin của dân gian, những hồn chết oan không biết đường về nhà. Phải đốt đuốc hướng dẫn cho linh hồn lưu lạc biết đường mà trở về.

Có biết bao hồn oan trong trận chiến Huế Mậu Thân đang chờ ánh đuốc, cả hồn oan của những chiến binh miền Bắc bỏ xác trong mương nước thành nội.

Năm Ất Dậu, 1885, Pháp đã đưa quân vào Huế uy hiếp triều đình. Đêm 23 tháng 5 âm lịch, 30,000 quân Nam tấn công căn cứ Pháp tại Mang Cá nhưng bị đánh bại. Kinh thành thất thủ, đại thần Tôn Thất Thuyết phải mang Vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị mở phòng trào Cần Vương. Trong trận chiến này, hơn 1500 quân dân Huế bị tàn sát. Ngay từ năm Mậu Tuất tiếp theo, Huế lập Đàn Tưởng Niệm, xây thêm miếu Âm Hồn trong Thành Nội, hàng năm, đúng ngày giỗ, cả thành phố đều đốt nhang, làm lễ. Thực dân Pháp không cấm việc dân Huế tưởng niệm người chết. Cộng sản thì khác.

Huế Mậu Thân, số nạn nhân bị tàn sát nhiều gấp 5 lần, nhưng từ sau 1975, mọi đài tưởng niệm đều bị phá bỏ, dân chúng thì bị công an đến từng nhà truyền lệnh cấm tụ tập làm giỗ.
 
Hình ảnh bập bùng của những ngọn đuốc đêm Huế ấy bao năm vẫn chập chờn trong đầu tôi.

 Từ trái: Giáo sư Peter Zinoman giới thiệu tác giả Nhã Ca và dịch giả Olga Dror


Thưa quí vị,

Năm Ất Mùi 2015, bốn mươi năm sau chiến tranh Việt Nam cũng là dịp kỷ niệm 20 năm bang giao Việt Mỹ.

Lịch sử có ghi là hai năm trước khi Nội chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc, tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln đã chỉ định "một ngày tủi nhục quốc gia" cho nước Mỹ. Trong ngày này ông đã kêu gọi cả nước nhận chung "tội lỗi của chúng ta" và cùng nhau xưng tội, cầu nguyện sự tha thứ.

"Ngày tủi nhục quốc gia" được công bố tại Mỹ là ngày 30 tháng 3 năm 1863. Đã hơn 150 năm. Nội chiến Hoa Kỳ chấm dứt vào vào tháng Tư năm 1865. Liên Bang nước Mỹ, với sự tôn trọng dành cho phía miền Nam - lá cờ miền Nam vẫn được treo, binh sĩ miền Nam vẫn giữ súng cá nhân, liệt sĩ Nam Bắc chung nghĩa trang, cả nước không có một cuộc diễn binh hay lễ hội mừng chiến thắng. Từ đó mà có được nước Mỹ ngày nay.

Sau Tết Ất Mùi, sang năm sẽ là Tết Bính Thân. Sắp thêm một năm Thân.

Chiến tranh Việt Nam, anh em một nhà bị đẩy tới chỗ giết nhau, thù hận nhau. Tháng Tư 1975 của Việt Nam - sau tháng Tư của nước Mỹ 110 năm - thêm cả triệu người miền Nam bị thủ tiêu, tù đày, chìm dưới đáy biển. Vậy mà cho tới nay, tại Việt Nam cũng như tại nhiều nơi, trong nhiều cái đầu, vẫn chưa thấy nghĩ lại.

Trong bài "Tựa Nhỏ: Viết Để Chịu Tội" mở đầu sách Giải Khăn Sô Cho Huế, tôi có viết rằng chính thế hệ chúng ta, thế hệ của tôi phải chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát Tết Mậu Thân cũng như cả cuộc nội chiến. Tầm nhìn thế hệ không phải phân biệt tả hữu, nam bắc. Sau đó là lời mời gọi cùng đứng trước bàn thờ ngày giỗ.

Khi viết lời tựa nhỏ cho bản in lần đầu "Giải Khăn Sô Cho Huế" vào năm 1969, tôi viết với niềm tin vào tương lai của Huế, tương lai Việt Nam.

Vào năm 2008, khi viết thêm ít dòng cho bản Việt ngữ của cuốn sách được tái bản ở Mỹ, tôi viết "Sẽ tới lúc phải có một bàn thờ chung, ngày giỗ chung tại quê hương, nơi từng biết thế nào là sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hóa, lịch sử."

Và hôm nay, tại đây, vẫn với nguyên vẹn niềm tin xưa, tôi tiếp tục chờ đợi.

Những người Huế từng bị tàn sát Tết Mậu Thân xứng đáng được tưởng niệm.

Các thế hệ tương lai tại Việt Nam xứng đáng được nghe, được nghĩ, được nói điều chân thật, được hưởng một đất nước lành lặn, sạch sẽ. Ngày ấy sẽ tới.

Kính chào và cám ơn quí vị.

Nhã Ca

(1) Bài “Xuân Này Nhớ Xuân Xưa” của tác giả Võ Trang, sách “Viết Về Nước Mỹ” 2009.

Bottom of Form

Bài trích từ Việt Báo số ra ngày 150228:

http://vietbao.com/a234271/47-nam-sau-vu-tan-sat-tet-mau-than-giai-khan-so-cho-hue-toi-uc-berkeley