[Ga: een map omhoog, voorpagina, ]

Thursday, April 17, 2014

Cuốn Phim Âu Châu Đã Cũ



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt 140415

Điểm lại những đòn công thủ của Nga và Tây phương


* Hình hý họa về Georgia: Cha con đều... hỗn như gấu, và Tây phương là con bò *



Cuối tuần qua, một số người võ trang, có thể với sự yểm trợ của đặc công Nga, đã chiếm đóng nhiều công thự của Ukraine tại ít ra là sáu tỉnh miền Đông, kể cả Donetsk, Kharkiv và Mariupol.

Trước sự thể đó, Chính quyền lâm thời Ukraine tại thủ đô Kyiv ra lệnh giải phóng các trụ sở bị chiếm đóng và nói tới nguy cơ chiến tranh. Từ Moscow, Thủ tướng Nga là Dmitri Medvedev thì cảnh báo, hay hăm dọa, về rủi ro nội chiến tại Ukraine. Qua Thứ Ba, binh lính Ukraine đã lần đầu tiên nổ súng quanh phi trường của thành phố Kramatork trong khi đã xuất hiện nhiếu thiết giáp dưới cờ Nga ở trong lãnh thổ Ukraine ở miền Đông. Tùy viên báo chí Phủ Tổng thống là Jay Carney, hôm Thứ Hai 14, cho biết là Chính quyền Barack Obama đang lượng định tình hình và sẽ tham khảo ý kiến các đối tác về biện pháp ứng phó. Hôm sau thì Mỹ ngợi ca việc Ukraine sử dụng võ lực một cách dè dặt, chỉ để tự vệ...

Khi thời sự dồn dập tường thuật như vậy, giới quan sát quốc tế cho là đôi bên, Liên bang Nga và các nước Tây phương, đang bước vào một cuộc chiến tranh cân não trước khi có cuộc họp vào ngày Thứ Năm 17. Sự thể không ngắn ngủi và thu hẹp như vậy.

Vì thế, "Hồ Sơ Người-Việt" nhìn rộng ra toàn cảnh và lượng định lại tình hình qua những lần Nga can thiệp bằng quân sự vào các nước lân bang.


Can Thiệp vào Vùng Baltic và Uy Hiếp Lithuania


Nhìn vào tấm bản đồ, ai cũng có thể thấy Hải quân Nga chỉ có một vùng thông thương tiện lợi là qua vùng biển Baltic ở phía Bắc. Tại khu vực Viễn Đông, Nga gặp trở ngại và đã từng bị Nhật Bản chặn đường và khuất phục trong trận chiến Nhật-Nga năm 1905. Vì vậy, sau Thế chiến II, Liên bang Xô viết đã thôn tính ba quốc gia độc lập vùng Baltic là Estonia, Latvia và Lithuania.

Trong 40 năm thời Chiến tranh lạnh, người dân tại ba nước này vẫn nhất quyết tuyên bố độc lập, trước sự thờ ơ bất lực của Tây phương.

Khi Liên Xô trôi vào khủng hoảng, từ năm 1985, Chủ tịch Mikhail Gorbachev tiến hành cải cách (qua hai chính sách gọi là glasnost và perestroika). Xứ Lithuania bèn tìm cách thoát khỏi quỹ đạo Nga vào năm 1988. Khởi đầu là phong trào ủng hộ việc cải cách của Gorbachev (lấy tên là Sajudis) với mục tiêu thật là khôi phục bản sắc văn hóa Lithuania, và công khai hóa mật ước chia vùng ảnh hưởng giữa Liên Xô với Đức Quốc Xã theo đó xứ Lithuania đã bị Nga thôn tính.

Được dân chúng hậu thuẫn, phong trào Sajudis bắt trớn cho việc Lithuania đòi tuyên bố độc lập năm 1990. Trước sự xoay chuyển dồn dập ấy, Liên Xô bắt đầu phản ứng qua ba bước là 1) phong toả kinh tế Lithuania, 2) từ đầu năm 1991, lập ra phong trào Yedinstvo ủng hộ Xô viết và biểu tình phản đối chính quyền Lithuania tại thủ đô Vilnius; 3) vài ngày sau thì đưa lực lượng bán võ trang vào bảo vệ dân biểu tình và chiếm đóng nhiều công thự của Lithuania, dưới khẩu hiệu "Cứu Quốc". Súng đã nổ và máu đã đổ, 14 người thiệt mạng khi lính Xô viết chiếm đài truyền hình Vilnius....

Nhưng thời đó, Liên Xô đã kiệt quệ và biến động quân sự tại Vilnius gây phản ứng ngược về nhà, khiến chế độ Xô viết còn tan rã nhanh hơn. Tháng Chín năm 1991, Lithuania tuyên bố độc lập trước sự bất lực của Moscow.

Ba bước can thiệp của Liên Xô thời ấy có thể là cơ sở cho việc lượng định chuyện Crimea và Ukraine thời nay. Và ta nên suy ngẫm về những gì Liên bang Nga có khả năng tác động trong vùng Baltic. Khác biệt thời nay là cả ba nước Cộng hoà Baltic đều là thành viên của Minh ước NATO, còn Ukraine thì chưa.


Can Thiệp Vào Moldovia Vì Transdniestria


Moldovia là một nước nhỏ, nằm kẹt giữa Ukraine và Romania, có một dải đất hẹp ở phía Đông là Transdniestria được quy chế tự trị và nói tiếng Nga, trong khi dân Moldovia nói tiếng Romania. Dải đất Transdniestria lại tiếp cận với Ukraine và giáp giới với đất Odessa do Nga kiểm soát.

Khi Liên Xô bị khủng hoảng, tinh thần quốc gia Moldovia dẫn tới phong trào bảo vệ bản sắc văn hóa và ngôn ngữ, để thay tiếng Nga và nếp cai trị Xô viết từ Tháng Tám năm 1989. Trong nội bộ có nhiều mâu thuẫn và thậm chí xung đột giữa người Moldovia nói tiếng Romania và người Slav nói tiếng Nga. Nơi đụng độ mạnh nhất là khu vực tự trị Transdniestria, với các nhóm "dân quân tự vệ" được Moscow yểm trợ và có hậu thuẫn của những nhóm "thiện nguyện" người Nga và người Ukraine theo Nga, ở bên kia biên giới.

Đầu năm 1990, dân chúng tại Transdniestria tổ chức trưng cầu dân ý bên trong Cộng hoà Xô viết Moldovia và 96% ủng hộ việc ly khai để theo Nga. Qua năm 1991, Liên Xô đưa quân đồn trú tại Transdniestria tấn công các đơn vị Moldovia rồi dàn xếp "ngưng bắn" giữa Moldovia và dân quân Transdniestra kể từ 1991.

Từ năm 1992, coi như Moldovia mất luôn Transdniestria, vùng đất vẫn được Liên bang Nga yểm trợ về quân sự lẫn tài chánh và có thể tự xưng là Cộng hoà Transdniestra.

Ngày nay, sau khi thôn tính Crimea và khuynh đảo xứ Ukraine, Nga có lợi thế địa dư chính trị là từ đất Odessa của Ukraine và Transdniestria của Moldavia (đều do Nga kiểm soát) mà gây áp lực với Moldovia, một quốc gia cũng có ý muốn hội nhập vào Âu Châu y như Ukraine. Nhưng trở ngại của Tổng thống Vladmir Putin là 1) chưa có một lực lượng thân Nga đủ mạnh bên trong Moldovia và 2) nếu dùng biện pháp quân sự thì phải giải quyết bài toán tiếp vận qua lãnh thổ Ukraine ở hướng Tây, là chuyện không dễ, và 3) gây phản ứng phòng thủ dữ dội hơn của các nước lân bang với Moldovia. Với Putin, giải pháp kinh tế, phong tỏa năng lượng của Moldovia có thể là rẻ và dễ hơn.


Tấn Công Georgia Nhờ Abkhazia và Nam Ossetia


Từ Bắc xuống Nam, từ vùng Baltic đến Moldovia, người ta thấy Liên Xô rồi Liên bang Nga sử dụng cả chính trị, kinh tế lẫn quân sự để can thiệp vào các nước từng nằm trong quỹ đạo Xô viết. Cộng hòa Georgia không thoát khỏi số phận đó, khi bên trong cũng lại có hai khu vực tự trị là Abkhazia và Nam Ossetia. Người dân nơi đây có khác biệt văn hóa và sắc tộc với dân Georgia.

Khi Gorbachev phải tiến hành cải cách để cứu vãn chế độ, người dân Georgia không để lỡ cơ hội khôi phục tinh thần quốc gia và vận động phong trào độc lập. Nằm trong lãnh thổ Georgia, hai vùng đất kia sợ bị mất quyền tự trị và năm 1989, tại Abkhazia đã có xung đột võ trang giữa dân Georgia và dân Abkhaz. Khi đó, Liên Xô đưa quân vào can gián và phê phán cả hai để tái lập trật tự. Nhưng khi Georgia đòi có nhiều quyền hạn hơn từ năm 1990 và qua năm 1991 thì tuyên bố độc lập (được công nhận chính thức vào cuối năm) với Liên bang Xô viết, người Nga bèn can thiệp mạnh mẽ hơn, và ủng hộ dân Abkhaz.

Giữa năm 1992, Abkhazia tuyên bố độc lập và các nhóm dân quân của dân Abkhaz tấn công các trụ sở do chính quyền Georgia kiểm soát và giao tranh bùng nổ. Khi ấy, dư luận Tây phương chưa mấy chú ý và loan tin dù Liên bang Nga đã đưa quân từ mạn Bắc Caucasia vào yểm trợ dân Abkhaz và đẩy lui quân Georgia. Khi ấy, người ta mới chỉ theo dõi sự chuyển hóa của Georgia, một vùng đất có các nhân vật Xô viết nổi tiếng như Josef Stalin hay Eduard Schevarnadze, Tổng trưởng Ngoại giao của Gorbachev, về sau là Tổng thống Georgia.

Người ta không đế ý đến việc dân Georgia khuông muốn là người Nga, quốc gia là đất Nga, mà bên trong Georgia, dân Abkhaz lại không muốn làm người Georgia. Và họ được Nga nâng đỡ vì chủ đích riêng. Cũng vì vậy mà Tháng Tám năm 2008, Nga lại can thiệp lần nữa vào Georgia.

Lý do là khi Georgia tuyên bố muốn gia nhập Minh ước NATO. Với Putin thì đấy là mối nguy cho an ninh của Nga, hay ý đồ đen tối của các nước Tây phương. Các nước Tây phương lại chẳng nghĩ như vậy mà cho rằng đấy là trào lưu tất yếu của dân chủ.

Trước hết, Putin can thiệp gián tiếp bằng cách rộng rãi cấp phát thẻ thông hành Nga cho người dân tại Abkhazia và Nam Ossetia. Tức là họ trở thành "công dân Nga". Khi đám công dân mới này kêu gọi Noscow bênh vực vì lực lượng Georgia bắt đầu nã đạn vào các thành lũy đòi độc lập của Nam Ossetia, Putin có lý cớ đưa quân qua đường hầm Rokhi vào đẩy lui quân Georgia để "giải phóng" Nam Ossetia.

Kết thúc việc can thiệp, kể từ đó, Liên bang Nga chính thức công nhận nền độc lập của Abkhazia và Nam Ossetia, lưu giữ quân đội đồn trú tại đây, bất chấp sự phản đối của Georgia và các nước Tây phương. Trong khi ấy, Georgia tiếp tục vận động việc gia nhập Minh ước NATO, cái lý do ban đầu khiến Putin đưa quân can thiệp.

Ngày nay, sau khi đã vào Crimea và đang uy hiếp Ukraine, biết đâu Putin lại chẳng muốn can thiệp vào Georgia? Lãnh đạo xứ này tại thủ đô Tbilisi có thể nghĩ như vậy khi binh lính Nga ở Abkhazia và Nam Ossetia lại vừa mở ra một cuộc thao dượt quân sự và có tin (chưa xác nhận) là Nga lại cấp phát thẻ thông hành Nga, lần này là cho người dân ở tỉnh Samtskhe-Javakhewti, nơi tập trung khá nhiều người gốc Armenia.

Giữa vụ khủng hoảng Ukraine hiện nay, phần bổi cảnh như cuốn phim cũ ở trên về sự can thiệp của Nga vào Lithuania, Moldovia và Georgia từ năm 1989 tới nay, có thể giúp độc giả hiểu ra – và đoán trước – được sự thể. Điều ngạc nhiên là truyền thông Tây phương lại có vẻ ngạc nhiên, là lãnh đạo nhiều nước bị bất ngờ, và Chính quyền Obama thì còn "lượng định tình hình".

Hồ Sơ Người-Việt phải trình bày tiếp về cái thế công-thủ của Tây phương.


Tây Phương Duy Ý Chí


Một số người bênh vực quan điểm của Vladimir Putin đều nói đến sự cam kết ngầm giữa lãnh đạo Hoa Kỳ và Liên Xô (Tổng thống George H.W. Bush và Chủ tịch Mikhail Gorbachev) trong cơn hấp hối của Liên Xô. Rằng Hoa Kỳ, Âu Châu và Minh ước quân sự NATO sẽ không thừa thắng mà tiến về hướng Đông.

Lá chắn NATO là phương tiện phòng thủ thời Chiến tranh lạnh chống lại đà bành trướng của Liên Xô vào Âu Châu. Nhưng khi Liên Xô tan rã từ năm 1989 và sụp đổ vào năm 1991, lá chắn là tấm khiên có mục tiêu tấn công chứ không phòng thủ, và lăn vào khu vực trước kia thuộc về quỹ đạo hay lãnh thổ Xô viết. Không mấy chú ý tới khía cạnh an ninh, truyền thông Tây phương chỉ đề cao trào lưu dân chủ Đông Âu và những cuộc cách mạng muôn màu tại Georgia, Ukraine, Serbia, thậm chí ở mại tận Trung Á, tại Cộng hoà Kyrgyzsatn....

Với Putin, chuyện dân chủ đó chỉ là âm mưu của Hoa Kỳ và Tây phương, do CIA lặng lẽ tiến hành qua các tổ chức ngụy danh "phi chính phủ" mà thực chất là bình phong tuyên truyền. Ngoài khía cạnh chính trị là phát huy dân chủ để làm suy yếu chế độ độc tài của Putin, trào lưu đó còn là đòn tấn công về an ninh: lãnh thổ của ba nước Baltic hay Georgia mà được NATO bảo vệ thì cũng có nghĩa là võ khí của NATO được thiết trí ngay tại biên giới của Nga.

Đấy là phần ấn tượng (perception) hay giải trình (narrative) được báo chí loan tải và độc giả tiếp nhận như chân lý. Thực tế lại khác hẳn – vì vậy mới có "Hồ Sơ Người-Việt".

Thực tế là Âu Châu đã cổ võ cho trào lưu dân chủ ở đầu môi mà không đóng góp gì cho sức mạnh bảo vệ dân chủ, là hệ thống an ninh quốc phòng, hay Minh ước NATO. Chẳng những vậy, Âu Châu còn lạc quan, ngây ngô hay gian ác, gia tăng hợp tác kinh tế với Liên bang Nga.

Mười năm qua, Putin đã tăng quân phí tới gần 80% và ngân sách quốc phòng Nga nay lên tới 4,5% Tổng sản lượng GDP của Nga. Trong khi đó, các nước Âu Châu tiếp tục cắt giảm quân phí và so với tỷ lệ 4,5% của Nga thì Pháp chi gần 2% (nhiều nhất), Đan Mạch 1,4%, Đức 1,3%...

Họ nói chuyện an nhàn và hiếu hòa được là nhờ NATO, với Hoa Kỳ cáng đáng 75% các khoản chi (còn 25% kia là của 27 nước còn lại, trong đó có 26 nước Âu Châu!). Đối diện với việc giảm chi về quốc phòng, kinh tế Âu Châu lệ thuộc nhiều hơn vào năng lượng của Nga!

Âu Châu thì vậy, Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Barack Obama cũng hiếu hòa không kém và còn khắng khít hợp tác với Putin cho hồ sơ Syria và Iran. Sau khi tiến hành kế hoạch tài giảm binh bị với Liên bang Nga (New START), Mỹ đã đơn phương tháo gỡ nhiều phương tiện quốc phòng và còn sớm hơn lịch trình cam kết với Nga. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vừa thông báo điều ấy, hôm Thứ Ba mùng tám vừa qua.

________________

Kết luận ở đây là gì?

Những ai chủ trương bảo vệ nhân quyền hay phát huy dân chủ đều được coi là đáng kính trọng, miễn là không nói tới việc dụng binh, hoặc gia tăng phương tiện quốc phòng. Tinh thần lý tưởng và duy ý chí này là một sự cám dỗ lớn cho Putin.

Nhiều khi công lý của nhân loại cần tới sức mạnh. Putin nghĩ là mình có sức mạnh và áp dụng công lý của mình. Các nước Tây phương thì nói đến "quyền lực mềm" hơn là súng đạn. Nạn nhân ở giữa có thể là dân Ukraine - hay nhiều xứ khác....

Wednesday, April 16, 2014

An Ninh Lương Thực tại Trung Quốc

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA - Ngày 140416
"Diễn đàn Kinh tế"

Đói ăn, khát dầu, thiếu nước nên đòi cướp đất
d1b944fb-f055-4c14-bb83-a5f01ec1d84d-305.jpg
* Người dân Trung Quốc mua nước sạch ở một siêu thị tại Lanzhou hôm 11 tháng 4 năm 2014. AFP*



Trong Tháng Năm, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin sẽ thăm viếng Trung Quốc và dư luận chờ đợi lãnh đạo hai nước sẽ thảo luận về điều kiện mua bán khí đốt, một sản phẩm chiến lược của Nga đang có tầm quan trọng hơn sau vụ khủng hoảng Ukraine. Tuy nhiên, Trung Quốc còn cần một sản phẩm có ý nghĩa sinh tử hơn, đó là lương thực. Bắc Kinh giải quyết bài toán này như thế nào? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu vấn đề qua cuộc trao đổi với kinh tể gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.
  Miếng ăn là bài toán sinh tử

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trên diễn đàn này ông thường nói năng lượng là sản phẩm chiến lược cho việc công nghiệp hóa các quốc gia, nhưng lương thực mới là một sản phẩm sinh tử vì không có thì chết. Trong ý nghĩa đó, trường hợp Trung Quốc rất đáng chú ý vì diện tích canh tác của lãnh thổ chưa tới 10% của địa cầu mà phải nuôi một dân số gấp đôi, là 20% dân số toàn cầu. Nếu Liên bang Nga có thể là nguồn cung cấp năng lượng cho Trung Quốc qua kế hoạch bán khí đốt mà lãnh đạo hai nước sẽ mặc cả khi Tổng thống Vladimir Putin của Nga thăm Bắc Kinh vào tháng tới, lãnh đạo Trung Quốc giải quyết vấn đề lương thực của họ theo hướng nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Với kích thước rất lớn và dân số cực đông, Trung Quốc là một xứ đói ăn, khát dầu và thiếu nước. Chẳng những vậy, từ khẩu hiệu "tự lực cánh sinh" thời Mao Trạch Đông cho đến mục tiêu "an ninh lương thực" thời nay, lãnh đạo xứ này chưa giải quyết được việc áo cơm cho thoả đáng nên miếng ăn là bài toán sinh tử cho Trung Quốc qua hai con số ông vừa trình bày, diện tích khả canh chưa bằng 10% mà phải nuôi một dân số bằng 20%.

Việc khai thác nông sản mới bị giới hạn và dù ngày nay có sản lượng lúa gạo cao nhất thế giới, Trung Quốc vẫn thiếu lương thực. Nguyễn-Xuân Nghĩa

 - Nhưng tình hình còn gay go hơn vậy cho nên trong tháng trước, Quốc vụ viện của Bắc Kinh qua báo cáo của viên Tổng lý là Thủ tướng Lý Khắc Cường đọc một giờ rưỡi trước kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa 12 và qua Chỉ thị Phát triển Lương thực và Dinh dưỡng từ 2014 đến 2020 mới nhấn mạnh đến việc đầu tư vào đất đai và nông nghiệp để giải quyết nhu cầu thức ăn ngày càng tăng của người dân. Tôi nghĩ rằng kết quả sẽ là sự thất vọng.

Vũ Hoàng: Xin ông lần lượt giải thích những nguyên nhân vì sao kết quả sẽ là sự thất vọng.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là về điều kiện khách quan của địa dư hình thể thì chỉ có 15% diện tích của 10 triệu cây số vuông tại Trung Quốc là có thể canh tác. Tính theo đầu người bây giờ chỉ bằng một phần ba của bình quân thế giới, trong khi xứ này lại quốc gia thiếu nước nhất tại lục địa ít nước nhất địa cầu là Châu Á. Ai lên lãnh đạo Trung Quốc cũng gặp những bài toán ấy và đều nhớ rằng nhiều biến động lịch sử đã bùng nổ vì nạn đói.

- Chuyện thứ hai, cũng về số cung, thì trên lãnh thổ thật ra nghèo nàn và khô cằn đó, diện tích canh tác còn bị thu hẹp dần bởi hai hiện tượng là nạn sa mạc hóa và đất bạc mầu sau bao đời theo nhau đào xới cấy cầy. Chuyện thứ ba, lãnh đạo đời nay gặp hiện tượng mới là đô thị hóa và gây thêm vấn đề khác là làm cạn nước và ô nhiễm môi trường, khiến đất hẹp còn bị thiếu nước lành ở dưới, thậm chí thiếu cả ánh sáng ở trên vì nhiều nơi bao trùm dưới khói độc. Vì hoàn cảnh đó việc khai thác nông sản mới bị giới hạn và dù ngày nay có sản lượng lúa gạo cao nhất thế giới, Trung Quốc vẫn thiếu lương thực.   


d39e1b17-67c5-44f5-b7a2-f5417183076a-250.jpg
Ảnh chụp ô nhiễm không khí tại Bắc Kinh hôm 24/02/2014. AFP PHOTO.
 
 
Vũ Hoàng: Đó là về khả năng cung ứng của đất đai và con người, còn về số cầu thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về lương thực, ta nghĩ đến gạo là nhu cầu chính của người dân tại miền Nam Trung Quốc và mì là sản phẩm được tiêu thụ nhiều ở miền Bắc. Ngoài ra, phải kể ra hoai sắn, ngũ cốc hay loại hạt thô như ngô đậu để ăn no. Muốn ăn ngon và bổ thì phải có trứng, sữa và thịt, là nông sản gốc mục súc chứa nhiều chất đạm và chỉ có nếu dùng ngô bắp làm thực phẩm nuôi gia súc.

- Từ khi cải cách kinh tế hơn 35 năm về trước, đời sống người dân có tiến bộ nên theo cơ quan Lương nông Quốc tế FAO chỉ còn chừng 12% dân số xứ này là bị nạn suy dinh dưỡng. Tiến bộ đó khiến người dân không chỉ cầu đủ no mà còn muốn ăn ngon và bổ hơn, tức là số cầu về trứng sữa hay thịt cá đều tăng. Khi ấy số cầu về thực phẩm cho gia súc mới đặt ra bài toán mới là Trung Quốc cần nhiều ngô bắp và đậu nành chứ không chỉ tự thoả mãn với bát cơm hay bát mì.

- Từ khi cải cách thì sản lượng loại cây lương thực như ngô đậu hay hạt có dầu của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, coi như tăng 2% một năm, và lên tới hơn 600 triệu tấn. Vậy mà vẫn chưa đủ cho nhu cầu nên xứ này phải nhập khẩu. Và yêu cầu về an ninh lương thực do lãnh đạo đặt ra là phải bảo đảm được 95% số tiêu thụ nội địa về gạo, mì và bắp, yêu cầu đó vẫn khó đạt vì khả năng cung cấp có hạn. Năm ngoái, tổ chức OECD, Hợp tác và Phát triển Kinh tế, và cơ quan Lương nông FAO, dự báo là từ nay đến năm 2020, Trung Quốc vẫn phải nhập đậu nành, với số lượng ngày một nhiều hơn.
  Trở ngại sự phân bố nơi sản xuất
Vũ Hoàng: Ngoài những giới hạn về khả năng cung ứng như ông vừa trình bày thì đâu là những vấn đề khiến Trung Quốc vẫn là một xứ thiếu ăn và phải nhập khẩu lương thực?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta vẫn khởi đi từ bài toán của thiên nhiên rồi mới nói tới khả năng giải quyết của con người. Trước hết là sự phân bố về địa dư của nơi sản xuất. Nơi sản xuất gạo và mì là tập trung tại miền Đông-Bắc và vùng Trung Nguyên, hay tỉnh Tứ Xuyên là nơi có gạo. Còn ngô đậu thì cũng ở khu vực Đông-Bắc, nhiều nhất sau này là tỉnh Hắc Long Giang, các nông trại nuôi heo lợn cũng thế, thường tập trung ở các tỉnh trồng ngô. Đó là về sản xuất, về tiêu thụ thì ta lại phải nói đến sự phân bố dân số ở khắp mọi nơi. Vì thế, có lương thực rồi, người ta vẫn cần tới hệ thống vận tải và phân phối, tức là phải có cầu đường, là chuyện không dễ mà đắt.

- Mà việc sản xuất ngũ cốc vẫn bị trở ngại vì diện tích canh tác thu hẹp dần trước đà đô thị hóa và theo Bộ Tài nguyên và Đất đai của Bắc Kinh, tới 2% diện tích khả canh của Trung Quốc bị ô nhiễm đến độ không thể trồng trọt gì được. Vì thế, trong báo cáo tháng trước, Thủ tướng Lý Khắc Cường mới đòi khai chiến chống ô nhiễm và đẩy mạnh việc hiện đại hóa nông nghiệp.

Vũ Hoàng: Nếu lãnh thổ bên trong có quá nhiều hạn chế cho sản xuất thì Trung Quốc vẫn có thể nhập khẩu. Hoặc còn tiến xa hơn vậy, tức là thuê đất canh tác ở xứ khác để đảm bảo nguồn cung cấp ngay tận gốc. Hình như là họ có làm như vậy rồi và đâu là những trở ngại?

Có lương thực rồi, người ta vẫn cần tới hệ thống vận tải và phân phối, tức là phải có cầu đường, là chuyện không dễ mà đắt. Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về giải pháp nhập cảng, tôi xin đề nghị là ta cùng nhìn vấn đề một cách toàn diện vì có thể rút tỉa nhiều bài học cho mình.

- Khi mua ngũ cốc, ta phải trang trải các phí tổn cơ bản là nước, phân, cần, giống, tiền chuyên chở và doanh lợi. Vì thế, khi nhập một tấn ngô đậu, Trung Quốc nhập cả... tiền nước tiêu tưới của xứ khác. Khi kiểm soát một phần của Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Thang Tạng, từ đầu nguồn của nhiều con sông lớn tại Châu Á, họ hủy hoại mạch nước cho các quốc gia dưới hạ nguồn, kể cả Việt Nam, và nay đòi mua nước trong hạt của xứ khác. Chuyện ấy ta nên nhìn ra!

- Chuyện thứ hai, Trung Quốc đã từng từ chối loại thực phẩm có biến đổi gen – gọi là genetic modified foods - do Hoa Kỳ xuất khẩu vì bảo là có hại cho sức khoẻ người tiêu thụ. Trong khi đó, các tập đoàn về lương thực của họ lại ngầm ăn cắp công nghệ biến gen của doanh nghiệp Mỹ như DuPont, Montsanto và Ventria Biosience. Toà án Mỹ tại các tiểu bang Iowa và Kansas đang điều tra vụ ăn cắp này, cho nên chuyện Trung Quốc nhập khẩu lương thực cũng có vấn đề.

- Phần mình, Bắc Kinh không quên là khi mua lương thực thì họ gặp bất trắc về giá cả, như trong vụ lương thực lên giá vào năm 2008. Vì thế, họ muốn mua từ gốc với hợp đồng dài hạn về giá cả và giải pháp đầu tư vào canh nông của xứ khác như ông vừa nhắc tới đã được áp dụng.

Vũ Hoàng: Thưa ông, phải chăng giải pháp đó cũng có gây tai tiếng là lũng đoạn xứ khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quốc gia nào cũng có thể nghĩ đến việc đầu tư vào xứ khác để có loại hàng hóa mà mình cần ở nhà. Trước Trung Quốc bốn chục năm, Nhật đã đầu tư vào xứ khác để bảo đảm nguồn cung cấp về năng lượng và khoáng sản. Trước Trung Quốc năm năm, Nam Hàn đã thuê nhiều nông trại ở xứ khác và dẫn đầu Trung Quốc về phương pháp đó. Nhưng hai nước Đông Á thiếu tài nguyên này đã không khuynh đảo xứ khác và gây hiệu ứng cho thị trường thế giới nên hầu như chẳng ai còn nhắc tới. Trường hợp Trung Quốc lại khác.

- Ngoài lĩnh vực năng lượng và khoáng sản gốc kim loại với phản ứng tiêu cực của các nước, thì từ năm 1996 Bắc Kinh đã vừa che giấu vừa tiến hành việc đầu tư vào đất canh tác của xứ khác như Cuba, Lào, Mexico và Phi Luật Tân. Rồi họ đẩy mạnh từ năm 2008 vào xứ Kazakhstan, Úc và nhất là các nước Phi Châu. Khi ấy, ta thấy ra hai hiện tượng trái ngược.

- Các nước nghèo tại Châu Phi lên án tinh thần "thực dân mới" của Trung Quốc và phê phán doanh nghiệp Trung Quốc không có chuyển giao công nghệ và còn giấu nghề trong các nông trại biệt lập của họ như những vùng tô giới. Ngược lại, một xứ tiên tiến như Úc thì than phiền thói ăn cắp công nghệ để trục lợi. Trong khi đó, tại Phillippines, tập đoàn kinh doanh về lương thực của Trung Quốc bị liên lụy vào chuyện tham nhũng để mua chuộc Chính quyền của Tổng thống thời đó là bà Gloria Macapagal-Arroyo. Nói chung, vì những chuyện đó, uy tín của Trung Quốc bị sứt mẻ trong khi nỗ lực đầu tư ra ngoài để bảo đảm an toàn lương thực vẫn không làm thay đổi quan hệ cung cầu trên thế giới.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, chúng ta có thể kết luận được những gì về chuyện an toàn lương thực của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là dù Trung Quốc đã có kế hoạch quy mô để giải quyết bài toán lương thực, tác dụng của họ vẫn không gây ảnh hưởng đến số cung hay giá nông sản trên thế giới theo chiều hướng có lợi, như họ đã thể hiện trong lĩnh vực năng lượng hay kim loại. Ngược lại, Trung Quốc vẫn bị ảnh hưởng nặng từ thị trường lương nông quốc tế và đấy mới là mối nguy sinh tử khi họ nói đến chuyện an ninh về lương thực.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.


 

Tuesday, April 15, 2014

Thủy Triều Rút Về Phương Tây



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 140414
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"
 
Cái bình thông đáy và sự u mê không đáy trong vụ khủng hoảng hối đoái sắp tới...

* Biện pháp QE quăng tiền vào trật tự tài chính Á Châu - Bây giờ tiền lại rút - còn mệt hơn nữa! * 


Trong khi thị trường Hoa Kỳ chờ đợi một vụ điều chỉnh giá chứng khoán sắp tới, chúng ta có thể nhìn ra ngoài, vào các thị trường của các nước gọi là "đang lên"....

Mọi chuyện có thể xảy ra cách nay một năm, hay năm năm, hoặc còn lâu hơn nữa.

Tháng Năm của năm ngoái và sau năm năm bơm tiền kích thích, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ thông báo trước quyết định "vuốt nhọn chính sách tiền tệ" – tapering – khi kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi khả quan hơn. Lập tức, các thị trường tài chánh thế giới trôi vào điên đảo. Kể từ đó, sau mỗi kỳ họp của Ủy ban Tiền tệ Hoa Kỳ (FOMC), sáu tuần một lần, Ngân hàng Trung ương Mỹ giảm dần 10 tỷ Mỹ kim trong số tiền bơm ra hàng tháng (là 85 tỷ). Con số 10 tỷ mỗi tháng của nước Mỹ chẳng có là bao so với gần bốn ngàn tỷ được tung ra từ cuối năm 2008, nhưng báo hiệu một chu kỳ mới, làm thế giới chấn động với nguy cơ khủng hoảng hối đoái.

Ta nên tìm hiểu lại chuyện này, để thấy ra mối quan hệ gắn bó giữa các nền kinh tế toàn cầu, ít ra là giữa các nước công nghiệp hoá (tạm gọi là các nước Tây phương, "giàu có") với các nền kinh tế đang phát triển, tạm gọi là các nước "nghèo hơn".


***

Khi Tây phương bị khủng hoảng tài chánh rồi Tổng suy trầm (2008-2009), biện pháp ứng phó bất thường của họ là cắt lãi suất tới mấp mé số không và ồ ạt bơm tiền qua thủ thuật gọi là QE, "quantitative easing", với chủ ý là nhờ tiền nhiều và rẻ, đầu tư sản xuất và tiêu thụ sẽ tăng. Việc kích thích kéo dài quá lâu nên gây ấn tượng là sẽ còn tồn tại. Và đấy là vấn đề.

Nhưng trong một thế giới "nhất thể hóa", suốt giai đoạn kéo dài đó, đồng tiền có chân lại chạy qua xứ khác, chứ không chỉ tụ vào kinh tế Hoa Kỳ, Âu Châu hay Nhật Bản. Từ đầu năm 2009 tới nay, lượng tiền "nóng" đã tăng gấp đôi, từ năm ngàn tỷ đô la lên tới 10 ngàn, và tràn vào các nền kinh tế đang lên, để kiếm cơ hội sinh lời cao hơn. Muôn sông đều chảy về Đông, đây đó gây ra hiện tượng úng thủy.

Vì kinh tế cũng là chính trị, hãy nói về chính trị của biện pháp kinh tế.

Việc Tây phương xả tiền khiến tiền nhiều và rẻ cũng làm đồng bạc mất giá. Khi ấy, nhiều người lý luận là tư bản mắc nợ đã đến thời mạt vận. Tiền Mỹ, Âu, Nhật hết là ngoại tệ dự trữ có sức áp đảo. Hoặc ngược lại, Tây phương có gian ý nên bơm tiền làm đồng bạc hạ giá, hàng hóa dễ bán hơn. Họ ra sức xuất cảng để ra khỏi khó khăn bằng việc gián tiếp phá giá đồng bạc và gây ra trận chiến hối đoái. Dù các nước ở thượng nguồn bị chê như vậy, đồng bạc của họ thì chẳng đáng chê.

Dưới hạ nguồn lại có lý luận trái ngược.

Tương lai là các nước đang lên, với dân số chưa bị co cụm vì lão hóa, mức nợ nần thấp hơn, môi trường kinh doanh ít rủi ro bằng. Đấy mới là nơi kiếm bạc an toàn hơn cả. Nhiều tổ hợp đầu tư Tây phương cổ võ cho lối giải trình phải đạo như vậy, để khuyên thân chủ đẩy tiền vào đó. Họ còn khuyến khích giới có tiền nên mua Công khố phiếu của các nước đang lên, an toàn hơn giấy nợ Âu Châu đang biến thành giấy lộn. Và do đồng tiền Tây phương mất giá, phép hốt bạc lời gấp bội là đầu tư bằng tiền nội địa của các nước đang lên. Hai cửa lãi suất và hối suất đều ăn!

Giữa cuộc hồ hởi, bỗng dưng Thống đốc Ben Bernanke lại vuốt nhọn chính sách tựa cái kim, làm xì trái bóng của thiên hạ nên mới bị rủa xả lung tung. Xin trở lại chuyện kinh tế để hiểu tại sao.

So với một hai phần trăm của Tây phương, khi các nền kinh tế đang lên lại đạt mức tăng trưởng cỡ năm sáu phân thì tư bản tất nhiên là chảy về đó. Kiếm lời, hoặc áo cơm, không là cái tội!

Bản luân vũ vào cõi thịnh vượng bắt đầu qua ba bước. Bước một, nơi thu hút tư bản là khu vực hay dự án có năng suất cao nhờ đó có lời đậm. Bước hai, "trâu chậm uống nước đục", dòng tư bản tới sau bèn chảy vào dự án ít lời mà nhiều rủi ro. Rồi nhờ dàn nhạc inh ỏi nên chưa thấy quan tài, chưa ai đổ lệ: với sự tuyên truyền của nhà nước, và sự cổ võ của nhà cái là giới đầu tư, người ta dìu dặt vào nhịp ba, đầu tư quá nhiều, thậm chí đầu cơ, và theo nhau tiêu thụ cùng sản xuất mà bất kể tới nguồn gốc của tư bản, cứ tưởng là bất tận.

Các nước gọi là đang lên đã dựng lên một hệ thống bất ổn và chỉ cần một tin xấu rất nhỏ cũng làm nhạc lắng mây chìm và gây ra thảm kịch lớn. Thảm kịch đó là tư bản tháo chạy, và khủng hoảng hối đoái dẫn tới suy thoái kinh tế. Chúng ta đang ở vào điểm lật đó.

Khi Ngân hàng Trung ương Mỹ báo tin vuốt nhọn chính sách - giảm dần mức bơm tiền và nâng lãi suất khỏi số không để sẽ hút lại lượng tiền đã bơm ra – thì đấy là tin xấu cho thiên hạ. Ai cũng đoán là tiền lời tại Mỹ sẽ tăng, đồng Mỹ kim sẽ lên giá. Bao giờ và tới mức nào thì chưa ai rõ, nhưng kết luận kế tiếp là các đồng tiền thuộc loại đang lên sẽ xuống giá nếu so với Mỹ kim.

Trên sàn nhảy thì tư bản tháo chạy thì cũng mù quáng như lúc chảy vào. Tài sản tại các nước đang lên bị mất giá cùng hối suất đồng bạc. Chính quyền sở tại muốn chặn đà sa sút thì phải bán ngoại tệ, mua nội tệ, nâng lãi suất và tăng chi ngân sách nên bị bội chi và thổi lên nguy cơ lạm phát.... Kinh tế bị suy trầm, có khi suy thoái, khủng hoảng.

Trong các nước thuộc loại đang lên, riêng năm quốc gia đã tiếp nhận một phần ba của 10 ngàn tỷ tư bản nóng chảy vào từ Tây phương. Đấy là năm xứ bấp bênh nhất hiện nay: Ấn Độ, Brazil, Nam Dương, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau năm năm lừng lẫy, ngũ hổ giờ này gặp cảnh diều đứt dây. Mà năm nay, cả năm xứ này đều có bầu cử. Họ ăn nói thế nào với quốc dân đây?

Thì cũng tại tư bản Tây phương!


***

Quả thật là các nước Tây phương từng có lúc thổi bóng như vậy, từ mấy trăm năm trước cho tới vụ gia cư địa ốc thời 2002-2006, với việc vay mượn quá sức cho đến ngày bể bóng. Châu Mỹ La Tinh thì khó quên cơn say đầu thập niên 1980 là vụ khủng hoảng Tequila. Các nước Đông Á bị vụ khủng hoảng 1997-1998 sau khi tưởng mình vươn thành rồng cọp. Trung Quốc đi sau cũng đòi qua mặt tư bản trong trò nguy hiểm đó và nay tần ngần dưới chân núi nợ. Tuần qua, Thứ trưởng Tài chánh của họ còn gân cổ phán bác khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế rằng coi chừng hạ cánh nặng nề!...

Vì chính trị cũng là kinh tế, hãy lật mặt trái của đồng bạc để xem cuộc tranh luận đang xảy ra.

Các ngân hàng trung ương đều có nhiệm vụ với nền kinh tế quốc gia và lấy mọi quyết định căn cứ trên tình hình thực tế của xứ sở. Nhưng trong hoàn cảnh mà kinh tế quốc gia lại hội nhập vào sinh hoạt quốc tế, mọi quyết định đều có thể vượt khỏi biên cương mà tác động vào xứ khác. Khi thấy sự thể ngon lành nhờ tư bản chảy vào, lãnh đạo xứ nào cũng có thể ca bài "đất lành chim đậu" để tự khen mình là giỏi. Khi tư bản tháo chạy thì đấy là lỗi của xứ khác.

Hình như kinh tế thế giới đã thành cái bình thông đáy. Mà lãnh đạo kinh tế của nhiều xứ lại có sự u mê không đáy. Ta nên nhớ bài học nhập môn ấy khi khủng hoảng hối đoái sắp tái diễn.... Và mừng cho nhiều nước dân chủ lại có thể tìm ra lãnh đạo khác. Trong số đó, chưa có Việt Nam!

Friday, April 11, 2014

Đại Lộ Putin – Đại Lộ Hoàng Hôn


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 140411

Putin có vẻ thắng thế. Ấy thế mà lầm!


* Hý họa của Plantu trên báo Pháp về việc nhà báo Anna Politkovskaia bị ám sát - Tác giả chơi chữ, Putin được miễn tội *

















Văn hóa Khổng Nho có dạy rằng: "Quân tử không đi tiểu lộ".

Đấy không là chuyện kín hở của việc bài tiết mà về nét quang minh chính đại của chính sách cai trị. Chân lý ấy khiến ta trở lại hành động của Tổng thống Vladimir Putin....

Dưới sự lãnh đạo của ông, năm 2008, Liên bang Nga công khai đưa quân vào hai khu vực tự trị của Georgia, và nay vẫn ở đó. Vài tháng sau, Putin đánh đòn năng lượng với Ukraine, cũng quang minh chính đại không kém, khi tăng giá dầu khí để bắt ép chính quyền tại Kyiv. Tháng trước đây, ông được "Thượng viện" Nga cho phép thôn tính bán đảo Crimea của Ukraine mà chẳng tốn một viên đạn. Ngày nay, quân đội Nga vẫn có bốn vạn chiến binh hờm súng trước biên giới Ukraine - mà không để tập trận....

Bây giờ, đây đó ở miền Đông Ukraine hay tại Cộng hoà Estonia trên vùng Baltic, Putin dõng dạc bắn tiếng là quyết tân bảo vệ dân quyền của kiều dân Nga, hoặc công dân nói tiếng Nga trong hai xứ này và nhiều xứ khác.

Ngay từ năm 2010, đệ tử của Putin là Tổng thống đương quyền Dmitri Medvedev đã quảng bá và nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại của Liên bang Nga, là bảo vệ kiều dân của mình ở bất kỳ nơi đâu. Khi ấy, dư luận không mấy để ý, tới nay mới thấy Putin là người thuần nhất - nói là làm.

Vladimir Putin đi trên đại lộ, chứ khỏi lòng vòng ngoắt ngoéo trong hẻm, như bọn tiểu nhân.

Bậc quân vương hiện đại ấy quả là đại nhân quân tử. Vì những gì ông nói đều được truyền thông của ông loan báo cho thần dân. Thần dân của ông gồm những người nói tiếng Nga, theo dõi truyền hình Nga, ở trong và ngoài nước Nga. Họ nhiệt liệt ủng hộ quyết định sáng suốt của ông tại Ukraine và ở nhiều xứ khác. Putin nói thẳng rằng ông triệt để bảo vệ quyền lợi của người Nga, và nói rồi làm, chứ không phân vân do dự.

Con đường trị quốc hay trì quốc của ông là đại lộ thênh thang. Hai bên có sự bảo vệ của bạo lực, và sự quảng bá của tuyên truyền. Những kẻ bất đồng đều đi vào tiểu lộ mất tăm, nếu chưa mất mạng vì bị đầu độc hoặc ám sát dù có đào thoát ra ngoài. Ai còn hoài nghi chuyện Putin thủ tiêu đối lập và khép miệng báo chí thì quả là từ cả chục năm nay đã sống trên một hành tinh khác, hay trong cõi Ba Đình. Xin lỗi, bài này không viết cho họ!

Khi kiểm điểm lại thành tích của Putin, ta nhớ đến một chân lý vật lý: "thiên nhiên không thích khoảng trống". Putin là người trám vào khoảng trống đó.

Dại gì mà không!

***

Theo phép bình luận ra chiều khách quan, xin nhìn qua xứ khác.

Trước đòn vũ bão của Đại đế hiện đại, một Hung đế Ivan của Thế kỷ 21, nhiều nhà lãnh đạo Tây phương đã có sự thông cảm. Một số lãnh đạo dư luận trong các nước dân chủ còn vẻ cảm phục.

"Hành động của Putin là chuyện hợp lý - có thể hiểu được".

Đấy là quan điểm của cựu Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi thuộc cánh hữu, hay cựu Thủ tướng Đức Helmut Schmidt thuộc cánh tả. Khi đã là "cựu" thì họ mới dám nói thật, chứ đương kim thì ai dại gì? Họ thông cảm với quyết định của Putin, đôi khi với sự thèm thuồng. Trong các thể chế dân chủ, mấy ai có thể nhân danh quyền lợi dân tộc mà phăng phăng hành xử theo kiểu hung đế hung đồ như vậy?

Những người lãnh đạo dư luận thì phục ngầm tinh thần quả quyết đó của Putin và – than ôi – còn than phiền về những bất toàn yếu kém của chế độ dân chủ. Chẳng phải sao?

Chưa là hung đồ mà mới chỉ hung hăng ra quân, với hậu thuẫn của cả lưỡng viện Quốc hội, Tổng thống George W. Bush đã bị cả Quốc hội lẫn truyền thông đánh cho mờ người khi thấy hai chiến trường Afghanistan và Iraq cứ dây dưa mà chưa dứt điểm! Nền dân chủ cho phép người dân - và đại diện chân chính của họ - có quyền đổi ý giữa dòng.

Trước lực đẩy của Putin mà các nước dân chủ còn phân vân bắt mạch quần chúng, hoặc lách qua tiểu lộ để xiển dương chính nghĩa hay bảo vệ đồng minh, thì quả là nền dân chủ có nhược điểm.

Đến đây, người viết nhớ chuyện xưa trong một ngoặc đơn. Khi Tổng thống Richard Nixon bị đàn hặc vì vụ Watergate và số phận của Việt Nam Cộng Hoà như chỉ treo mành, một người thuộc tầng lớp lãnh đạo tại Sàigòn dù sao vẫn có dân chủ đã hậm hực phát biểu. "Chỉ có Mỹ mới vậy, chứ người ta đã có thể giải quyết chuyện này bằng hai trái lựu đạn!" Putin giải quyết vấn đề theo kiểu đó.

Các nước dân chủ thì không!

Sau mấy ngón đòn sấm sét của Putin, người dân trong các nước dân chủ nghĩ gì? Thu gọn lại thì an ninh hay kinh tế, cái nào là trọng?

Dưới tầm đạn Putin trong vùng Đông Âu thì dân Ba Lan hay ba nước Cộng hoà Baltic ở miền Bắc nghĩ tới an ninh. Ngoài vòng lửa đạn thì các nước Tây Âu có thể mơ chuyện thanh bình, được sưởi ấm bằng khí đốt của Nga. Ưu tiên của mọi ưu tiên là cứu lấy đồng Euro hay sự tồn vong của Liên hiệp Âu châu đã. Và bề nào thì chuyện an ninh hay súng đạn đã có Hoa Kỳ đảm nhiệm. Trực tiếp hoặc gián tiếp qua Minh ước NATO.

Tại Hoa Kỳ, bốn nhân vật có thẩm quyền về đối ngoại ngày nay đều từng là lãnh đạo đảng Dân Chủ ra tranh cử Tổng thống trong 10 năm qua. Theo thứ tự thời gian thì đó là đương kim Ngoại trưởng John Kerry, thụ ủy liên danh Dân Chủ năm 2004; là cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, dẫn đầu vòng sơ bộ năm 2008; là Joe Biden sau đành rũ áo Nghị sĩ để làm Phó Tổng thống. Và sau cùng, người đắc cử hai lần để lãnh đạo cả đám là Tổng thống Barack Obama.

Cả bốn người đều coi Bush là vấn đề và Putin là giải pháp. Họ sốt sắng hợp tác với Putin để cùng giải quyết thiên hạ sự, cho tới lúc ca bài "Ơ Quả Mơ" khi hung đế chơi bạo!

Vì vậy, cái lẽ lợi hại, hay thắng bại giữa nạn dân chủ và ách độc tài, chỉ là chuyện giả. Chuyện thật là người dân có quyền không? Và muốn gì khi bỏ phiếu cho người thực hiện ước vọng của họ? Câu hỏi ấy mới là thời sự trong cuộc các bầu cử sắp tới tại Hoa Kỳ.

Nôm na là đừng khen Putin hay sức mạnh của độc tài mà nên chê Obama. Và mừng rằng chế độ dân chủ tại Mỹ cho phép người dân chọn lãnh đạo khác. Với hy vọng là đầu năm 2017, Hoa Kỳ không tái diễn sự bất lực trước cường quyền.


***


Khi so sánh, có một chuyện lù lù như bức tường Bá Linh năm xưa mà cứ bị dìm xuống dưới...

Tại sao người Hung, Tiệp, Ba Lan, hay Georgia, Látvia, v.v... lại không tìm vào đất Nga để sống dưới chế độ thái hòa của Putin, được bảo vệ bằng võ khí hạch tâm và nuôi dưỡng bằng năng lượng quá rẻ? Vì họ khát khao cái gì đó nước Nga không có và Putin không cho.

Ngược lại, Putin có thể vận dụng – lợi dụng là một từ chính xác hơn – dân thiểu số người Nga tại Estonia, hay Latvia, Lithuania, hoặc nhiều xứ Đông Âu khác để khuynh đảo các quốc gia xưa kia nằm trong quỹ đạo Xô viết. Nhưng vì sao lại có nhiều người Nga sinh sống trong các nước đó? Câu trả lời xa là vì chính sách di dân để cai trị từ thời Stalin. Gần hơn, và sau khi Liên Xô tan rã, dân Nga tiếp tục tiến vào hành lang Đông Âu để tìm một đời sống khá giả hơn ở miền Tây.

Chúng ta nên nhìn vào thực tế đó, ở sau gáy Putin.

Giành lại độc lập sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước Đông Âu đều theo nhau hội nhập vào Liên hiệp Âu châu và còn được Minh ước NATO bảo vệ. Vì vậy, nhiều người Nga vẫn tìm qua đó và nhờ chế độ di trú tự do, xin chiếu khán dễ dàng, từ Đông Âu họ có thể tiến xa hơn về hướng Tây. Thần dân của Putin có những kẻ tha phương cầu thực và đi tìm nơi cực lạc ở Tây phương.

Bây giờ, Putin cho họ tri hô báo động là bị kỳ thị và cần sự bảo vệ của Đại đế!

Bài này khởi đầu với một thành ngữ Khổng Nho. Xin được kết thúc qua một ngạn ngữ Khuyển Nho, của bọn "xy ních" đểu cáng mà đậm sắc Nga Tầu. "Thà là làm con chó thời bình còn hơn con người thời loạn". Thần dân của Putin mong hưởng sự thanh bình của Tây phương. Bây giờ ông ta muốn họ phải sủa!

Đại lộ Putin vì vậy chỉ là con đường lớn của giống khuyển nô.