[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Friday, October 17, 2014

Turkey và Món Gà Nhồi Bom


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 141017

Chiến lược thổ tả của xứ Thổ Nhĩ Kỳ

Vị trí Turkey giữa bốn hướng Đông Nam Tây Bắc

 














Sau nhiều tuần xôn xao về thành phố Kobani tại vùng biên giới giữa Syria với xứ Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ), truyền thông Tây phương bỗng tắt máy rọi đèn qua hướng khác.

Phải chăng người ta hết quan tâm đến số phận của dân Kurd bị tổ chức khủng bố ISIL (Nhà nước Hồi giáo) nã đạn vào lưng mà chạy túa lên phía Bắc thì bị lính Thổ chặn cửa và thậm chí sát hại?

Lý do khiến Kobani trở thành đề tài thời sự là vì các thông tín viên có thể chụp hình khói lửa từ biên giới Thổ Nhĩ Kỳ và họ gây ra ấn tượng về đà thắng thế của quân ISIL trong lãnh thổ Syria trước sự dửng dưng của xứ Thổ. Sự thật thì giao tranh vẫn tiếp diễn dữ dội ở nhiều nơi tại Iraq và bên trong Syria như vùng Tây Nam gần xứ Lebanon hay chung quanh thủ đô Damascus, Chỉ vì chẳng có truyền thông tường thuật thì người ta coi như chuyện không có.

Bây giờ, có lúc Kobani như biến khỏi bản đồ, dù vẫn còn nghi ngút khói với phân nửa đã vào tay quân khủng bố, là điều khiến Ngoại trưởng John Kerry của Hoa Kỳ than là "bi thảm!".

Đấy là cơ hội chúng ta trở về lập trường của xứ Thổ, dưới quyền lãnh đạo của Tổng thống Recep Tayyip Erdogan. Và nói chuyện Thổ để trở về chuyện Mỹ.


***

Với biệt tài nói nhảm, hai tuần trước, Phó Tổng thống Joe Biden đã kết án lãnh đạo nhiều nước Hồi giáo, kể cả và nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, vể tội gián tiếp yểm trợ quân khủng bố ISIL. Hoặc ít nhất là không sốt sắng hợp tác với Hoa Kỳ để truy lùng và tiêu diệt ISIL.

Sau khi phát biểu và bị đồng minh phản đối thì Joe Biden lần lượt điều chỉnh tác xạ với lời xin lỗi.

Thật ra, ít ai muốn tham gia chiến lược diệt trừ ISIL của Tổng thống Barack Obama, được đề ra cả tháng rồi mới dán nhãn là "Operation Inherent Resolve" – Chiến dịch Quyết tâm Nội tại – với một định đề tiên quyết của Obama là không thả lính nhập trận, "no boots on the ground".

Dưới sự lãnh đạo như vậy của Hoa Kỳ, mỗi quốc gia lại đánh giá mối nguy hay nguồn lợi một khác. Trường hợp nổi bật nhất chính là xứ Thổ, có tên được Âu hóa là Turkey, như con gà Tây.

Thổ Nhĩ Kỳ là mảnh vụn còn lại – và lớn nhất – của Đế quốc Hồi giáo Ottoman, một đế quốc hiện hữu từ năm 1299, rồi bị hai cường quốc Âu Châu là Anh Pháp đánh bại và xé xụn cách nay 95 năm.

Nằm giữa các khu vực hay cường quốc như Trung Đông, Âu Châu, Nga cùng các nước Tây phương, xứ Thổ này quả thật là không giống ai.

Dù theo Hồi giáo, dân Thổ không thuộc sắc tộc Ba Tư (của Iran) hay Á Rập (như Jordan, Iraq, Saudi Arabia), lại rất ngại sắc tộc Kurd sống trong lãnh thổ và tản mác tại các xứ lân bang như Syria, Iraq. Dù là thành viên của Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO, với quân số cao nhất sau Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ chẳng được coi là một nước Âu Châu, lại còn bị cự tuyệt khi xin gia nhập Liên hiệp Âu châu. Dù là cường quốc cấp vùng đã theo đuổi đường lối canh tân từ thời quốc phụ Mustapha Kemal Attaturk, Thổ Nhĩ Kỳ không thể Âu hóa, lại còn bị Đế quốc Nga rồi Liên bang Xô viết chặn đường bành trướng vào khu vực Caucasus nằm giữa Hắc hải và biển Caspian.

Khi đó, bản sắc hay căn cước của dân Thổ là gì?

Recep Tayyip Erdogan đề ra chủ trương phát huy sức mạnh của một quốc gia Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni, và đàng Công lý và Phát triển của ông được đa số ủng hộ nên ông làm Thủ tướng từ năm 2002. Sau ba lần thắng cử liên tiếp (2002, 2007 và 2011), ông đang giữ vị trí Tổng thống và tiếp tục chủ trương củng cố sức mạnh cho một Quốc gia Hồi giáo.

Chủ trương xây dựng một Quốc gia Hồi giáo – State of Islam – của Erdogan thật ra có họ với tinh thần của lãnh tụ ISIL là Abu Bakr al-Baghdadi. Nếu có khác biệt thì chỉ về phương pháp ít cực đoan sắt máu hơn. Đây là lý do chính khiến lãnh tụ Erdogan của xứ Thổ không muốn tấn công tổ chức ISIL, mà cũng chẳng yểm trợ hay hợp tác với al-Baghdadi như nhiều giới chức Hoa Kỳ tố cáo (Joe Biden). hoặc lo ngại.

Chiến lược Thổ của Erdogan còn tinh vi hơn vậy.

Thổ Nhĩ Kỳ đang tìm cách trục lợi nhờ sức bành trướng của lực lượng ISIL. Tổ chức khủng bố này làm suy yếu chế độ Bashar al Assad tại Syria và thu hẹp ảnh hưởng của các Giáo chủ Iran tại khu vực trải rộng ở miền Nam, từ Lebanon (nhờ lực lượng khủng bố Hezbollah) qua Syria (nhờ al Assad) tới Iraq (nhờ thế lực của hệ phái Shia).

Vì vậy, Erdogan mới có lập trường cổ quái là nếu muốn tấn công tổ chức ISIL thì phải lật đổ chế độ al Assad tại Damascus, là điều mà Chính quyền Obama đã dự tính khi vạch ra "lằn ranh đỏ" rồi lại xoá. Chẳng những vậy, Erdogan còn đề nghị là sau khi thanh toán xong chế độ al Assad tại Syria và để chặn đường tổ chức ISIL cực đoan quá khích thì các nước Tây phương nên học gương... Thổ Nhĩ Kỳ là xây dựng một chính quyền dân chủ theo Hồi giáo.

Diễn giải cho rõ hơn: Thổ Nhĩ Kỳ đang đòi hỏi điều đã bị Âu Châu cự tuyệt từ 95 năm trước, là mở rộng ảnh hưởng đến tận Syria, xưa kia là một tỉnh của Đế quốc Ottoman.

Nhân chuyện Iraq (mà Erdogan từ chối tham gia từ năm 2003), rồi Syria từ ba năm qua cho đến ISIL ngày nay, xứ Thổ ôm giấc mơ lãnh đạo dân Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni ngay giữa khu vực Trung Đông, là thế lực đối trọng với hệ phái Salafist do Saudi Arabia yểm trợ, và ngăn cản sự bành trướng của hệ phái Shia theo Iran.

Bên trong khu vực này, Erdogan có thể hợp tác với lực lượng võ trang Peshmerga rất thiện chiến của dân Kurd tại Iraq để giới hạn ảnh hưởng của phe Shia tại Baghdad, Nhưng lại muốn mượn bàn tay sắt của ISIL diệt trừ ảnh hưởng của dân Kurd tại Syria. Lính Thổ không nhảy vào Kobani cứu dân Kurd vì cộng đồng Kurd vẫn có thiện cảm với đảng PKK, đảng Công nhân Kurdistan, là đảng muốn ly khai đã từng tấn công Chính quyền Thổ tại Ankara từ nhiều thập niên rồi.


***

Dù chỉ khái quát duyệt lại những tính toán đầy hiểm nguy của Thổ Nhĩ Kỳ, ta cũng thấy lịch sử soi ngược lên năm 1919 và địa dư trải rộng lên khu vực rộng lớn của nhiều sắc tộc và hệ phái Hồi giáo. Mấy chi tiết ấy mới khiến người ta lờ mờ đoán ra số phận của Kobani và của dân Kurd và thấy rõ hơn những giới hạn của chiến lược Obama.

Lãnh đạo Ankara không sợ lực lượng ISIL sẽ tràn vào lãnh thổ của mình nhưng e ngại dân Kurd. Erdogan sẵn sàng gây mâu thuẫn với Hoa Kỳ và còn canh chừng chánh sách hòa giải của Obama với xứ Iran trong khi Obama chẳng có quyết tâm giải quyết hồ sơ ISIL. Mà trong khu vực nhiễu nhương ấy, Thổ Nhĩ Kỳ không là đồng minh duy nhất của Mỹ đã nhìn qua hướng khác, với rất nhiều rủi ro cho dân Hồi giáo.

Chiến lược nào mới thật sự là thổ tả?


Wednesday, October 15, 2014

Kinh Tế Suy Trầm - Mỹ Kim Lên Giá

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 141015
Diễn đàn Kinh tế 
 
 Hiện tượng đảo chiều giữa nhiều biến động lớn

000_Was8872067.jpg
* Buổi thảo luận về đạo đức, tài chánh tại văn phòng IMF tại Washington DC hôm 12/10/2014. AFP photo * 



Tuần qua, các thị trường tài chính thế giới đều bị chấn động khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đánh sụt dự báo tình hình kinh tế toàn cầu theo hướng bi quan hơn trước. Cùng lúc đó, người ta còn thấy một nghịch lý là đồng đô la Mỹ tiếp tục lên giá và có thể góp phần cho nhiều biến động tài chính khác. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sự thể đó qua phần trao đổi của Vũ Hoàng với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, gần như là cùng với thông tin là nền kinh tế của Trung Quốc vừa vượt qua Hoa Kỳ để đứng đầu thế giới, tuần qua, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF lại cập nhật dự báo về tình hình kinh tế toàn cầu theo hướng bi quan hơn so với những gì họ đưa ra hồi Tháng Tư vừa rồi. Dự báo đó của IMF đã khiến thế giới lo sợ một nạn suy trầm nữa sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009 và làm các thị trường tài chính quốc tế bị chấn động nặng. 

Nhưng cũng qua những biến động này, người ta còn thấy một xu hướng khác là đồng Mỹ kim lặng lẽ tăng giá nếu so với các ngoại tệ khác. Trong hoàn cảnh có rất nhiều đổi thay đột ngột như vậy, liệu thính giả của chúng ta có thấy ra một vài quy luật giải thích chuyện ấy không? Câu hỏi trước tiên chúng tôi xin được nêu ra là về kinh tế Trung Quốc, vì sao lại được IMF đánh giá là vừa mới vượt Hoa Kỳ để dẫn đầu thế giới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Về dự báo của Quỹ IMF liên hệ đến kinh tế Trung Quốc, tôi xin được nhắc lại vài chi tiết sau đây.

- Từ đã lâu người ta quen lý luận rằng kinh tế Trung Quốc tăng trưởng hàng năm khoảng 10% và theo đà này thì sẽ có sản lượng cao hơn nước Mỹ. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế còn đề ra kỹ thuật đo lường tinh vi là tính lại sức mua của đồng Mỹ kim ở hai nền kinh tế khác nhau với hàm ý là tại Trung Quốc, một đồng đô la có mãi lực cao hơn nên sức nặng kinh tế của xứ này thật ra cao hơn các số liệu sản lượng tính bằng tỷ giá chính thức của đồng Mỹ kim. Áp dụng phương pháp đó thì Tháng Ba vừa qua, IMF ước tính rằng năm nay kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ. Qua Tháng Năm, Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra một dự báo tương tự và tuần qua IMF cho biết rằng tính theo số liệu của Quý Ba vào cuối Tháng Chín thì kinh tế Trung Quốc vừa mới vượt Hoa Kỳ để có sản lượng thực tế là 17 ngàn 600 tỷ đô la so với 17 ngàn 400 tỷ đô la của Mỹ.

Vũ Hoàng: Ông nghĩ thế nào về cách ước tính đó khi thế giới cũng lại nói tới viễn ảnh không sáng sủa cho kinh tế Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng khó vượt qua chỉ tiêu 7,8% mà lãnh đạo xứ này đã đề ra?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việc dự báo tương lai là điều cần thiết mà không hoàn toàn chính xác hay khả tín nên mới phải thường xuyên điều chỉnh. Trong tinh thần đó, Quỹ IMF đã có những dự báo thường xuyên lạc quan và cứ sáu tháng lại điều chỉnh một lần. Đó chuyện chung.

- Riêng về Trung Quốc thì khi áp dụng phương pháp gọi là tỷ giá mãi lực PPP để ước tính là kinh tế xứ này vừa mới vượt Hoa Kỳ, Quỹ IMF dựa trên nhiều giả thuyết và những giả thuyết ấy chưa chắc đã là thực tế cho nên kết luận của định chế này chỉ có giá trị tương đối thôi. Sự thật thì mặc dù có dân số rất cao, kinh tế Trung Quốc vẫn chưa thể vượt Hoa Kỳ và bên trong lại còn bị nhiều nhược điểm có thể dẫn tới khủng hoảng. Trong một kỳ sau ta sẽ nói về chuyện đó.

Vũ Hoàng: Trở lại chuyện thường xuyên điều chỉnh thì Quỹ IMF vừa điều chỉnh lại viễn ảnh kinh tế toàn cầu với đà tăng trưởng bình quân chỉ còn chừng 3% thay vì 3,4%, sự kiện ấy mới khiến các thị trường tài chính e ngại một sự sa sút chung. Ông đánh giá thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đặt vấn đề trong một bối cảnh dài là thế giới đang trải qua một giai đoạn khó khăn khởi sự từ năm sáu năm trước và thật ra vẫn chưa dứt. Một lý do chủ yếu là tình trạng vay mượn quá nhiều của khối kinh tế công nghiệp hoá như Âu-Mỹ-Nhật. Khi vay thì có ngày phải trả và trong giai đoạn trả nợ đó kinh tế khó tăng trưởng mạnh như trước.

- Thứ hai, người ta còn lầm tưởng rằng trong khi khối kinh tế công nghiệp hóa bị sa sút thì các nền kinh tế gọi là đang lên như Trung Quốc, Ấn Độ hay Brazil có thể là những sức kéo mới. Sự thật lại chẳng được như vậy và các nền kinh tế đang lên này chưa kịp lên đã xuống vì số phận lẫn đồng bạc vẫn bị giàng vào khối công nghiệp hóa.

- Chuyện thứ ba là trong khối công nghiệp hóa đó, các nước Âu Châu chưa thoát khỏi vụ khủng hoảng của khối Euro nổi lên từ năm 2010 và bây giờ đầu máy kinh tế mạnh nhất là nước Đức lại có triệu chứng đình trệ đáng ngại. Vì vậy Quỹ IMF đã có dự báo bi quan hơn những gì họ nêu ra sáu tháng về trước. Ngẫm cho kỹ thì khi IMF ước đoán tình hình mỗi sáu tháng mà còn phải liên tục điều chỉnh, ta chẳng nên tin vào cách họ ước tính về sức nặng kinh tế của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Bây giờ ta mới chú ý đến đồng Mỹ kim. Thưa ông vì sao trong hoàn cảnh sa sút chung của thế giới, đồng Mỹ kim cứ tiếp tục lên giá và hậu quả sẽ là gì cho các nước khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta nhớ lại rằng Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chính vào Tháng Chín năm 2008 giữa một chu kỳ suy trầm khởi sự từ đầu năm đó. Vì vậy kinh tế Mỹ bị chấn động nặng trong các năm 2009-2010 với bội chi ngân sách và gánh nợ của công quyền lên tới kỷ lục.

- Trong tình trạng phải nói là khủng hoảng cả kinh tế lẫn chính trị vì ách tắc trong Quốc hội về ngân sách, mức khả tín của trái phiếu Hoa Kỳ bị đánh sụt vào năm 2010 và mọi người đều cho là nước Mỹ bắt đầu lụn bại trước sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc. Đấy cũng là lúc người ta nói đến ngày tàn của đồng Mỹ kim như một ngoại tệ mạnh nhất và phổ biến nhất.

- Tuy nhiên, nếu theo dõi kỹ sự thăng giáng lên xuống của đồng đô la Mỹ so với các ngoại tệ khác thì mình có thể thấy là đồng đô la đụng đáy vào năm 2010 và từ đó cứ lặng lẽ lên giá. Mà tiền Mỹ không chỉ lên giá nếu so với đồng Yen của Nhật khi Nhật chưa ra khỏi chu kỳ suy trầm từ hai chục năm trước. Tiền Mỹ còn lên giá so với các ngoại tệ khác, nhất là đồng Euro.

Vũ Hoàng: Người ta giải thích thế nào về hiện tượng bất ngờ ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, người ta sở dĩ coi đấy là chuyện bất ngờ vì tin rằng Mỹ kim đi vào chu kỳ tuột dốc sau khi ngân sách bội chi quá nặng vì biện pháp kích thích kinh tế của chính quyền. Kế đó, Ngân hàng Trung ương Mỹ ghìm lãi suất gần số không và ào ạt bơm gần bốn ngàn tỷ vào nền kinh tế qua ba đợt QE, tức là "gia tăng mức lưu hoạt có định lượng".

- Khi ấy, cả thế giới kết án là Hoa Kỳ có âm mưu gián tiếp phá giá đồng bạc với chính sách gọi là "đô la rẻ" để xuất khẩu cho dễ. Ta không quên rằng nhiều quốc gia đã nói đến "trận chiến ngoại hối" giữa các nước để xứ nào cũng có tiền rẻ và bán hàng cho mạnh.

- Bây giờ người ta mới chưng hửng khi thấy Mỹ kim lại lặng lẽ lên giá. Lý do là trong hoàn cảnh u ám toàn cầu thì nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn có tiềm lực riêng và thật ra vẫn mạnh nhất khi so sánh với Âu Châu, Nhật Bản, và cả Trung Quốc, nhất là Trung Quốc.


Hậu quả cho nước khác

Vũ Hoàng: Nếu Mỹ kim lên giá như vậy thì hậu quả sẽ ra sao cho các nước khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước tiên là với Hoa Kỳ, việc đô la lên giá trở thành bài toán cho việc xuất khẩu vì bán hàng đắt hơn. Nhưng, ngược với sự suy luận của nhiều người, kinh tế Mỹ ít lệ thuộc vào xuất khẩu cho nên sự thể ấy không là vấn đề trầm trọng. Vấn đề nằm ở chỗ khác.

- Từ năm ngoái rồi, Ngân hàng Trung ương Mỹ trù tính việc thu hẹp dần và chấm dứt biện pháp bơm tiền kích thích kinh tế rồi sẽ tăng lãi suất. Khi đó các thị trường tài chính bị biến động nặng. Bây giờ, việc Mỹ kim lên giá so với các ngoại tệ khác, tức là so với đồng bạc của các bạn hàng của Hoa Kỳ, có nghĩa là Mỹ bán cho xứ khác nạn giảm phát hay thiểu phát cho nên Ngân hàng Trung ương Mỹ không sớm tăng lãi suất như đã dự trù, ít ra đến giữa năm tới.

- Với các nước khác thì Mỹ kim lên giá có nghĩa là đồng bạc của họ giảm giá. Với Nhật hay khối Âu Châu thì điều ấy có lợi, là cơ hội mới để thoát khỏi nạn suy trầm nếu bán hàng rẻ hơn và xuất khẩu nhiều hơn.

Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông, với các nước đang phát triển, thí dụ trước tiên là Trung Quốc, thì việc đô la lên giá sẽ có ảnh hưởng ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãi suất tại Mỹ bị ghìm thật thấp và tiền Mỹ quá rẻ thì nhiều nước đã vay tiền Mỹ về đầu tư ở nhà để hưởng sai biệt lãi suất theo phương pháp gọi là "carry trade". Trung Quốc là trường hợp đó với tư bản nóng tràn vào và góp phần thổi lên bong bóng đầu cơ. Bây giờ, đô la lên giá và có thể còn tăng trong nhiều năm liền thì tình hình sẽ đảo ngược và đấy là một thách đố cho các nước đang phát triển.

Vũ Hoàng: Xin đề nghị ông giải thích hiện tượng phức tạp này cho rõ ràng hơn vì hình như đấy cũng là chuyện ảnh hưởng tới Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta lấy thí dụ của doanh gia hay nhà nước Trung Quốc hoặc Việt Nam khi tham dự vào trò chơi tài chính này. Người ta có thể vay tiền Mỹ với giá rẻ để đem về kiếm lời ở nhà với lãi suất cao hơn và đinh ninh rằng nhờ triển vọng kinh tế sáng sủa hơn, đồng bạc của họ còn lên giá so với tiền Mỹ cho nên nếu có trả nợ thì cũng trả rẻ hơn. Cái tiêu chuẩn định hướng việc tính toán đó là khoảng sai biệt của phân lời trái phiếu ở hai nơi.

Chúng ta nhớ lại rằng mới đây Việt Nam vừa phát hành trái phiếu để đi vay bằng đô la hầu trả lại các khoản nợ đã vay từ trước, tức là áp dụng kỹ thuật gọi là "đảo nợ". Bây giờ người ta mới chưng hửng khi Mỹ kim chẳng sụt giá mà còn tăng và cái hóa đơn trả nợ sẽ đắt hơn trước.

- Hậu quả đầu tiên là việc vay tiền rẻ rất dễ gây ra lạm phát ở nhà. Thứ nhì là các khoản nợ đã vay bằng tiền Mỹ sẽ đắt hơn và dễ gây khủng hoảng về ngoại hối. Thứ ba, khi nhiều người phải trả nợ bằng đô la Mỹ thì càng cần đến tiền Mỹ làm hối suất Mỹ kim lại càng tăng. Và sau cùng, tổng hợp lại thì các nước đang phát triển tưởng là khôn ngoan kiếm lời nhờ tiền Mỹ rẻ sẽ gặp khó khăn về ngoại thương, nôm na là xuất nhập khẩu sẽ giảm và càng lệ thuộc vào ngoại thương lại càng dễ bị khủng hoảng!

Vũ Hoàng: Thưa ông, kết luận ở đây là hình như thế giới đang gặp nguy cơ chấn động lớn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như vậy và vì thế kỳ này chúng ta không nói về cái việc ảo là kinh tế Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ mà nói đến chuyện thật là thế giới đang gặp nhiều biến động trái chiều so với những nhận thức sai lầm của mấy năm qua về vị trí của nước Mỹ hay của đồng tiền Mỹ. Chúng ta thật sự đang ở giữa một chu kỳ thay đổi khá lớn lao mà mình ít biết.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo này.

Tuesday, October 14, 2014

Trung Quốc Là Số Một



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt 141014
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Trong một danh sách lộn hột

* Đầu bếp Tầu trong tiệm cao lâu Trung Quốc *


Qua truyền thông, các biến cố kinh tế - hay bất cứ chuyện gì khác - thường đến với chúng ta dưới hai dạng.

Thứ nhất là phần mô tả sự việc, xin tạm dùng chữ thông dụng là "narrative", để cho biết rằng có điều gì đó vừa mới xảy ra, ở tại đâu, vào lúc nào? Sau đấy mới là phần diễn giải về sự việc, như tại sao chuyện đó lại xảy ra, và nếu có thể thì giải thích thêm hậu quả gần xa, về không gian lẫn thời gian. Phần mô tả chính là tin tức, phần diễn giải thì gọi là phân tách với nội dung mang tính chất bình luận, dĩ nhiên là có thể chủ quan từ người diễn giải.

Tháng Ba vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra dự đoán rằng sản lượng kinh tế Trung Quốc có thể vượt Hoa Kỳ để chiếm ngôi vị số một. Đấy là tin tức được loan báo. Qua Tháng Năm, đến lượt Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra dự đoán ấy. Khi đó, ngày 12 Tháng Năm, 2014, cột mục "Kinh tế cũng là Chính trị" này có nêu ra cách diễn giải, qua bài "Sức Mạnh và Sức Mua của Kinh Tế Trung Quốc - Và sức nói láo của giới kinh tế quốc tế", với nội dung trình bày cách đo đếm của các định chế tài chánh quốc tế.

Cách đo đếm ấy là dùng "tỷ giá mãi lực của đồng bạc", hay sức mua đối chiếu của cùng một tờ đô la ở tại Mỹ và ở bên Tầu, thuật ngữ kinh tế gọi là "purchasing power parity", viết tắt là PPP.

Lấy một thí dụ cụ thể cho dễ hiểu là người dân Tầu mà có 100 đô la tại Hoa Lục thì có sức mua cao hơn một người Mỹ có 100 đô la ở bên kia Thái bình dương, vì nếu mua một tô mì hoặc vào tiệm hớt tóc thì chỉ trả có chừng một phần năm cho cùng một sản phẩm hay dịch vụ này tại Mỹ.

Tuần qua, Quỹ Tiền Tệ IMF lại xác nhận Trung Quốc mới chiếm số một về sản lượng kinh tế. Dù Tổng sản lượng một năm tại Mỹ vẫn hơn Tầu đến 50% thì tổng số sản phẩm và dịch vụ do Trung Quốc sản xuất ra lại vừa cao hơn sản lượng Mỹ khi được điều chỉnh theo tỷ giá mãi lực.

Thời sự mô tả biến cố ấy như thế này: Tính đến hết Quý III (cuối Tháng Chín), sản lượng kinh tế của Hoa Kỳ được ước lượng là 17 ngàn 400 tỷ Mỹ kim. So với sản lượng cùng thời QIII của Trung Quốc là 10 ngàn 600 tỷ thì kinh tế Mỹ vẫn giàu hơn Tầu đến sáu ngàn 800 tỷ (6.800), là cao hơn tới 64%. Nhưng vì một đô la tại Hoa lục mua được nhiều hàng hơn tại Mỹ, cho nên IMF điều chỉnh bằng tỷ giá PPP, được ước lượng là 1,6667. Khi nhân với hệ số ước lượng ấy thì sản lượng thật của Trung Quốc tính đến ngày 30 Tháng Chín vừa qua đã lên tới 10.400 x 1,6667= 17 ngàn 667 tỷ Mỹ kim, tức là vượt con số 17 ngàn 400 tỷ của Mỹ. Boong!

Đấy là phần tin tức được truyền thông mô tả làm nhiều người Mỹ giật mình, hoặc làm người Việt lo sợ trước sức mạnh của kinh tế Trung Quốc.

Nếu chịu khó phân tách tin này, thay vì lướt qua đề tựa ("IMF: Kinh tế Tầu vượt Mỹ thành số một thế giới"), ta có thể thấy ra một chữ then chốt là "ước lượng".

Quỹ IMF và Ngân hàng Thế giới trước đó đã ước lượng hệ số điều chỉnh theo tỷ giá mãi lực của một đồng bạc ở hai nơi (giả dụ như 1,4, hay 1,5 hay 1,6) để nói về thời điểm vượt mặt. Con số ước lượng ấy được tính ra từ một giỏ hàng tiêu biểu của các hộ gia đình tại Hoa lục hay Hoa Kỳ, rồi còn châm thêm vài yếu tố gia giảm hay gia trọng khác cũng được ước lượng như lạm phát ở hai nơi.

Khi ấy, ai tò mò muốn tìm hiểu xa hơn đề tựa của bản tin thì có thể tự hỏi về những hàng hóa hay dịch vụ cấu thành cái giỏ hàng tiêu thụ tiêu biểu.

Dường như trong cùng một nước, cái giỏ hàng tiêu biểu của người dân tại Thượng Hải lại khác với giỏ hàng của một gia đình tại tỉnh Quý Châu mạt rệp. Cũng như dân New York có yêu cầu về tiêu thụ và giá cả khác với người dân Kansas.

Nói cho gần thì người Việt ta đều thấy Cali nhà đắt mà thức ăn rẻ, khác hẳn Texas. Cho nên một gia đình kiếm ra năm ngàn một tháng tại Westminster của quận Cam có thể tốn nhiều tiền cho ngôi nhà hơn một gia đình có lợi tức năm ngàn tại Houston trong quận Harris – và có cảm tượng là mình nghèo hơn dân Houston dù có ăn tô phở rẻ hơn.

Chuyện "ăn" và "ở" rất đơn giản ấy cho thấy cấu trúc khác nhau của "giỏ hàng tiêu biểu" và giá trị rất tương đối của việc ước lượng.

Chuyện ước lượng thứ hai là về sức tăng trưởng trong dài hạn. Đã quen với đà tăng trưởng gần 10% của kinh tế Trung Quốc trong nhiều thập niên, IMF tiếp tục dùng con số ước lượng là 9% một năm trong năm năm tới để tin chắc rằng kinh tế Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ.

Nhưng cũng tuần này, định chế quốc tế ấy vừa điều chỉnh dự báo cập nhật về kinh tế toàn cầu là có giảm sút. Nói lại cho rõ, cứ sáu tháng một lần, các định chế quốc tế đều cập nhật ước lượng về kinh tế thế giới theo hướng bi quan hơn. Mới chỉ sáu tháng mà đã phải tính lại thì nói chi đến chuyện năm ba năm, khi lãnh đạo Bắc Kinh cố duy trì chỉ tiêu tăng trưởng là 7,8% một năm (thay vì 9%), và nếu được 7,4% thì đã mừng!

Thành thử, khi có loại tin thời sự như vậy, ta nên nhìn lại. Tính chất khôi hài bất ngờ là IMF công bố phúc trình ước lượng này khi Hong Kong bốc khói, với hậu quả ra sao thì chưa ước lượng nổi!

Chuyện ấy dẫn ta đến một câu hỏi then chốt là vì sao thiên hạ vẫn cứ ước tính sức mạnh kinh tế của các nước bằng khí cụ đo lường là đồng đô la Mỹ, rồi mới gia tăng hay gia giảm theo sức mua thực tế? Vì đồng Mỹ kim vẫn giữ vị trí đầy khó chịu là ngoại tệ thanh toán phổ biến nhất. Cho nên khi Trung Quốc mua bán trên thị trường quốc tế thì chủ yếu vẫn phải thanh toán bằng tiền Mỹ theo mệnh giá, là hối suất chính thức, chứ không thể viện dẫn một tỷ giá PPP mơ hồ nào đó.

Trong tinh thần "lấy thịt đè người", Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới nên có thể nhân cái số đông ấy cho lợi tức trung bình, một con số cũng chỉ là ước lượng, để có sản lượng rất cao. Với một loại tỷ giá thực tế khác thì sức mạnh đó chỉ là chuyện ảo.

Lợi tức trung vị của một hộ gia đình tại Trung Quốc được tính là bốn ngàn đô la một năm so với 53 ngàn của Mỹ. Về thống kê, số "trung vị" (median) có tính chất tiêu biểu hơn "trung bình" (average) vì hàm nghĩa là có phân nửa cao hơn và phân nửa thấp hơn. Nếu so với sức kiếm tiền của một hộ gia đình, là nội lực thật của kinh tế, thì lợi tức đó chỉ là 7,5% của các hộ gia đình Mỹ.

Chưa kể tới các đầu máy kinh tế thật, như số doanh nghiệp tiêu biểu về sức sáng tạo hay số giải Nobel về kinh tế, thì Hoa Kỳ vẫn đang dẫn đầu và Trung Quốc thì còn nghèo và lạc hậu.

Khi đọc loại tin này, người trẻ tại Hoa Kỳ sẽ giật mình và gắng sức. Người cao niên đang hưởng lương hưu bằng đô la thì có thể nghĩ đến chuyện Non Bồng Nước Nhược: đem tiền đó vào Trung Quốc sống thì được hưởng bao lợi thế về tiền ăn xàì, kể cả bảo hiểm sức khỏe, đấm bóp và sửa móng tay! Với điều kiện là bịt mũi về chuyện môi sinh hay vệ sinh hoặc an toàn thực phẩm, và không được biểu tình phản đối như tại Mỹ.  Là những chuyện không có trong cách ước lượng tỷ giá PPP.

Trung Quốc quả là số một, trong một danh sách lộn ngược về mức sống và cách sống.

Friday, October 10, 2014

Hương Nhài, Hương Cảng và Trung Ác Mộng



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 141010

Đừng tin bất cứ chuyện gì, cho tới khi Bắc Kinh phủ nhận!

 * Bao giờ Ba Đình sẽ tỉnh giấc Trung Ác Mộng như thế này? *



Đứng từ Tây phương chưa Cực Lạc mà còn có vẻ cực loạn - một phần nhờ Barack Obama – chúng ta rất dễ hiểu lầm về chuyện Hương Cảng.

Xưa nay, chúng ta quen gọi vùng đất ấy là Cảng Thơm, dịch nôm từ chữ Hương Cảng, rồi Hong Kong, Hồng Kông, Hồng Công, v.v...,  một deo đất gồm các bản đảo và quần đảo nhỏ ở cửa sông Châu Giang tuôn ra biển, được Đế quốc Anh xây dựng thành một hải cảng sầm uất trong không khí tự do. Bây giờ thì xin cứ tùy nghi gọi sao cũng được.

Khi vụ khủng hoảng Hương Cảng bùng nổ - tùy khả năng đo đếm thời gian, người ta định vị các cuộc biểu tình vào ngày 22 Tháng Chín, mùng một Tháng Bảy 2014, hay còn sớm hơn nữa - thế giới Tây phương và đa số chúng ta đều nhấn mạnh đến yêu cầu dân chủ của dân Hương Cảng.

Điều ấy rất đúng, tức là không sai – nhưng mà chưa đủ.

Không để chơi chữ, ta chẳng thể quên chuyện hương nhài xuất phát từ "Mùa Xuân Á Rập" vào đầu năm 2011 tại xứ Tunisie ở Bắc Phi.

Khi ấy, người ta nói đến cuộc cách mạng dân chủ, hay cách mạng hoa nhài, hoa lài, hoa jasmine, hoa mạt lợi. Nó phả hương thơm từ Trung Đông vào Trung Quốc mà lãnh đạo Bắc Kinh thấy tựa khói độc. Khi ấy, họ cho kiểm duyệt thông tin trên không gian điện toán, để giới trẻ Trung Quốc hay gốc Hoa ở mọi nơi khác không liên lạc với nhau trong nỗ lực kêu đòi dân chủ.

Nhớ lại thì nổi lên từ ngày 20 Tháng Hai năm 2011, phong trào vận động hoa nhài, hay "Mạt Lợi Hoa Hưng Động", quy tụ nhiều thành phần dân chúng khác nhau.

Đầu tiên là giới bất đồng chính kiến tại Hoa lục, gồm nhiều luật sư, nhà báo hay giáo sư, trí thức muốn có cải cách chính trị tại Trung Quốc. Năm đó, khuôn mặt nổi bật là nhà văn Lưu Hiểu Ba, vừa lãnh giải Nobel Hoà bình vào Tháng 10 năm 2010 thì bị tống giam. Người kia là nghệ sĩ Ải Vị Vị nổi danh quốc tế thì bị cầm tù 81 ngày về tội danh kinh tế liên quan đến... thuế khóa!

Thứ hai là học sinh và sinh viên thuộc thế hệ sinh sau vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989. Họ vẫn nuôi mộng canh tân xứ sở và khá thông thạo kỹ thuật thông tin điện tử nên có móc nối với tuổi trẻ bên ngoài qua các mạng lưới xã hội. Cũng do tinh thần duy tân của giới trẻ có học, gần như là truyền thống tại Trung Quốc từ trăm năm trước, mà sau này, năm nay, ta nghe nói đến hiện tượng "học vận", vận động của thanh thiếu niên có học. Thiếu niên có học khá tiêu biểu sau này là cậu Joshua Wong, mới 15 tuổi đã lâm trận và 17 tuổi trở thành kiện tướng của chiến dịch "Chiếm Đóng Trung Hoàng" vừa qua tại trung tâm Hương Cảng,

Thứ ba là thường dân, thành phần ít quan tâm đến các tư tưởng lớn về dân chủ nhưng bất mãn về nhiều chuyện thiết thực trong đời, như nạn tham nhũng, cường hào ác bá cướp đất, gây ô nhiễm môi sinh, tình trạng bất công xã hội, hay nạn dân công thất nghiệp v.v.... Mỗi nhóm bất bình lại tự phát biểu tình vì một số động lực mà chẳng phối hợp với nhau, cho tới khi có những nỗ lực vận động của giới trẻ.

Sau cùng là thanh thiếu niên bên ngoài Hoa lục, tại Đài Loan, Hương Cảng, Singapore, Seoul, và các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ. Thời ấy, có một nhân vật đáng chú ý là Watson Meng với trang Boxun.com xuất phát tại tiểu bang North Carolina. Họ trao đổi thông tin trong ngoài, và giúp nhau vượt bức tường lửa để phanh phui nhiều chuyện, đôi khi còn tung tin đồn và gây nhiễu âm cho lãnh đạo Trung Quốc rượt đuổi để chống đỡ.

Chúng ta có thể thấy ra một quy luật phổ biến là "đừng tin bất cứ điều gì, cho tới khi nhà nước phủ nhận!"

Dĩ nhiên là nhà nước Bắc Kinh tố cáo các "thế lực thù nghịch" ở bên ngoài với hàm ý là Hoa Kỳ qua các tổ chức phi chính phủ NGO. Nhưng sự thật khó phủ nhận được là bên trong Hoa lục, Trung Quốc đã có sẵn mầm loạn.

Cuộc vận động hương nhài dẫn đến một hiện tượng lạ. Năm đó, người ta kêu gọi nhau quy tụ tại 13 thành phố và các địa điểm đông khách mà không để biểu tình - rất dễ bị nhốt. Họ  chỉ gọi nhau khơi khơi xuất hiện thật nhiều và... nhìn nhau. Vì vậy, lực lượng công an, cảnh sát và đám "thành quản" được tung ra khắp nơi và nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.

Cái không khí khẩn trương đó mới phơi bày sự lúng túng của bộ máy đàn áp khi rơi vào cảnh ngộ "có tật giật mình".

Chi tiết còn thiếu trong cuộc vận động này là giải thích cho truyền thông Tây phương hiểu ra kỹ thuật đó. Lần này, thanh thiếu niên Hương Cảng đã cải tiến kỹ thuật đấu tranh và trình bày mạch lạc. Nhưng thế giới Tây phương lại hiểu lầm chuyện này thành một cuộc vận động cho dân chủ. Họ quên rằng cả vạn sinh viên học sinh Hương Cảng đã từng biểu tình hai năm về trước, vào ngày 29 Tháng Bảy 2012, để phản đối giáo trình do Bắc Kinh áp đặt với nội dung đề cao chủ nghĩa ái quốc theo định hướng của nhà nước cộng sản. Đấy là lúc Joshua Wong lần đầu lâm trận!

Thành thử, giới trẻ Hương Cảng, Đài Loan hay nhiều nơi khác không chấp nhận cái chuỗi chân lý lạc hậu: 1) "yêu nước là phải yêu xã hội chủ nghĩa", 2) "yêu xã hội chủ nghĩa là phải trung thành với đảng", vì 3) "đảng mới là đại diện chân chính của dân tộc Trung Hoa". Nôm na là dân Hương Cảng không chỉ kêu đòi dân chủ mà còn phủ nhận cái "định hướng xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa".

Vì vậy, vụ khủng hoảng không thu gọn vào vai trò của viên Hành chánh Trưởng quan Lương Chấn Anh, hay việc bộ máy chính quyền sở tại phải độc lập với Bắc Kinh, hoặc phải tôn trọng thể thức bầu cử đại diện theo phương thức trực tiếp kể từ năm 2017.

Cơn biến động còn vượt khỏi cuộc tranh luận về nguyên tắc "nhất quốc lưỡng chế" – one country, two systems – do Đặng Tiểu Bình đề ra khi thu hồi lại Hương Cảng với dụng ý trấn an để sẽ thu hồi cả Đài Loan.

Cuộc khủng hoảng bùng nổ vì nhiều người Hoa không muốn là thần dân của Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Họ chống lại hệ thống chính trị ấy đến độ sẵn sàng làm công dân của một nước Cộng hoà Đài Loan độc lập, hay là "dân Hong Kông", chứ không muốn là dân Trung Quốc. Chẳng những có tinh thần ly khai và chối bỏ căn cước hay bản sắc Trung Hoa để thành công dân quốc tế trong một thế giới đa nguyên rộng mở, họ còn muốn làm xã hội Trung Quốc đổi thay để theo kịp sự tiến hóa của nhân loại.

Nghĩa là sau 30 năm cải cách kinh tế để thành cường quốc, đảng Cộng sản lại thất bại với dự án phát huy chủ nghĩa quốc gia để củng cố vai trò lãnh đạo của đảng. Thất bại đầu tiên là từ bên trong khi tăng trưởng không đưa tới phát triển mà còn gây ra nhiều vấn đề vượt quá khả năng giải quyết của đảng. Để khỏa lấp nhược điểm ấy, đảng khích động tự ái dân tộc và chỉ ra kẻ thù ở bên ngoài qua các vụ tranh chấp về chủ quyền với lân bang.

Thí dụ điển hình là tranh chấp với Nhật về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư bùng nổ vào trung tuần Tháng Tám năm 2012. Khi đó lãnh đạo Bắc Kinh kín đáo cho phép người dân biểu tình chống Nhật tại nhiều thành phố, như Bắc Kinh, Thượng Hải, Trường Sa và cả Hương Cảng. Chỉ ba ngày sau là lại lật đật cấm đoán vì e sợ dân biểu tình sẽ nhân đó quay ra chống đảng!

Khi đó, chúng ta thấy ra hoàn cảnh cưỡi dân như cưỡi cọp của đảng.

Ngồi trên lưng phất cờ chỉ ra kẻ thù ở bát phương tứ hướng mà cứ sợ bị cọp vồ! Bây giờ thì chúng ta hiểu vì sao mà năm đó ngân sách cho việc bảo vệ an ninh trật tự bên trong lại còn cao hơn ngân sách quốc phòng để bành trướng sức mạnh quân sự ra ngoài.

Vì vậy, sau khi lãnh tụ mới là Tập Cận Bình nói đến "Trung Quốc Mộng" với tinh thần mị dân, ta vừa được nghe dân Hương Cảng trả lời về giấc mộng đó. Họ từ chối. Quả thật là cơn ác mộng cho đảng.

"Trung Ác Mộng" là một từ chính xác!