[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Friday, November 21, 2014

Vén Bức Màn Bên Kia



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 141120

Thông tin, tuyên truyền và hai góc trái phải của bộ não người Nga  


* Vladimir Putin hấp tấp rời Thượng đỉnh G-20 để ra về sớm *



Sau Thượng đỉnh vừa qua của nhóm G-20 (gồm 20 quốc gia có nền kinh tế giàu mạnh nhất địa cầu), thế giới tưởng như văn minh của chúng ta đã tiếp nhận loại thông tin sau đây: Tại thành phố Brisbane của nước Úc là quốc gia đăng cai tổ chức Thượng đỉnh vào hai ngày 15 và 16, các lãnh tụ Tây phương có thái độ lãnh đạm và gay gắt đả kích Tổng thống Vladimir Putin về vụ xâm lấn Ukraine đến nỗi ông Putin phải rời hội nghị trước lễ bế mạc.

Nếu lọc được tin này qua hàng loạt tin tức và bình luận của từng quốc gia – nào chuyện nội tình nước Úc của Thủ tướng Tony Abbot, những phê phán của dư luận về Tổng thống Barack Obama sau cuộc bầu cử tại Mỹ, hoặc phản ứng của thị trường về chánh sách kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe, v.v.... – ta có thể kết luận rằng ông Putin vừa bị một gáo nước lạnh, và rằng các nước dân chủ Tây phương vừa thắng một keo.

Và đấy là kết luận sai!

Hãy nói về bối cảnh của sự việc đã.

Ngày năm Tháng Chín vừa qua, các nước liên hệ đến vụ khủng hoảng Ukraine đã đạt một số thoả thuận ngưng bắn tại miền Đông xứ Ukraine do Putin đề nghị với Tổng thống Petro Poroshenko của Ukraine tại thủ đô Minsk của xứ Belarus, trước sự chứng giám của Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu châu (Organization for Security and Cooperation in Europe), Liên hiệp Âu châu và Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO, v.v....

Putin coi thỏa thuận Minsk này là "nguyên trạng" và đòi các nước tôn trọng. Nhưng ngay sau đó, ông lại vi phạm và tiếp tục yểm trợ võ khí, kỹ thuật và cả nhân sự cho các nhóm tự xưng là ly khai mà thực chất là thân Nga, hay đúng hơn, tay sai của Nga. Họ không che giấu ý định thôn tính một số thành phố có tính chất chiến lược ở miền Đông Ukraine, kể cả Mariupol, một hải cảng sẽ nối liền miền Đông với bán đảo Crimea và là đường tiếp vận của Nga.

Lãnh đạo và kinh tế của Ukraine bị dồn vào thế kẹt nhưng NATO bất động, Liên Âu bất lực, Hoa Kỳ lửng lơ vì Obama lo chuyện bên trong, còn Thủ tướng Đức thì cố làm con thoi hòa giải giữa Kyiv và Moscow. Trong hoàn cảnh ấy, nguyên thủ các nước lần lượt gặp nhau tại Thượng đỉnh APEC ở Bắc Kinh, rồi Hội nghị khối ASEAN tại Miến Điện và Thượng đỉnh G-2- tại Úc.

Đấy là khi chiến hạm Nga xuất hiện ngoài khơi nước Úc sau khi tiềm thủy đĩnh Nga bị Thụy Điển phát giác ở biển Bắc, sau khi một tầu ngầm nguyên tử Nga thao dượt gần Đan Mạch giữa một hội nghị về an ninh tại Bắc Âu. Và khi oanh tạc cơ của Putin bỗng lảng vảng trong vùng Vịnh Mexico, sát nách Hoa Kỳ!

Những hành vi khiêu khích ấy xảy ra khi Hoa Kỳ và Âu Châu đã tăng mức độ trừng phạt kinh tế. Vì thế, chẳng nên ngạc nhiên khi Thủ tướng Canada là Stephen Harper gọi Putin là phường lưu manh và nói láo. Và Putin bỏ về sớm, để lại cho các lãnh tụ Tây phương một thành quả biểu kiến. Nếu cho rằng đấy là một thắng lợi của các nước dân chủ Tây phương chống lại một lãnh tụ độc tài nhiều tham vọng thì người ta lầm to.

Đấy là thắng lợi vô dụng trên một con dốc nguy hiểm.

Tuy nhiên, nhờ theo dõi được tin bên Tầu, hay Miến Điện, hay Úc, Âu, Mỹ, Nhật, v.v... ta thử bước qua bên kia bức màn, xem truyền thông Nga loan tin tức ra sao về Putin và những hành động điên rồ này? Chúng ta mới là những người điên khi tưởng dân Nga cũng nghĩ như mình về Vladimir Putin!

Hình ảnh của Putin qua ống kính văn minh là một lãnh tụ phong phanh mặc áo banh ngực và có vẻ... hỗn như gấu cũng vì quá khứ là nhân viên KGB đáng ghét. Truyền thông Nga đưa ra hình ảnh và nhiều ấn tượng khác.

Putin là tay hùng biện ngang tầm Ronald Reagan hay F. D. Roosevelt của Mỹ, hoặc de Gaulle của Pháp, trong cách ăn nói bình dị thiết thực. Ông thường xuất hiện dưới ống kính truyền hình của Nga như một lãnh tụ quan tâm đến đời sống người dân khi mạt sát các Bộ trưởng là chẳng lo cho dân nghèo. Putin chỉ có một mục tiêu là sự giàu mạnh của nước Nga và sự thịnh vượng của dân Nga. Gần 15 năm sau khi lên cầm quyền rồi lãnh đạo, Putin đã làm đời sống của dân Nga có vẻ khá giả hơn. Chẳng những vậy, ông còn làm thế giới phải nể trọng nước Nga như dưới thời Xô viết.

Vì thế, hậu thuẫn chính trị cho Putin cứ ngất ngưởng trên đỉnh và ông ta sẽ lại tái đắc cử vào năm 2018 này để sẽ là người lãnh đạo nước Nga trong 24 năm liên tục!

Còn chuyện Ukraine? Đấy cũng là một công lao khác của Vladimir Putin. 

Quốc gia này xưa kia thuộc về Liên bang Xô viết, chẳng khác gì bán đảo Crimea vừa được Putin giải phóng và thu hồi về cho Đất Mẹ sau một cuộc trưng cầu dân ý. Bước kế tiếp sẽ là giải phóng Ukraine. Với dân Nga thì đấy là chuyện cực kỳ chính đáng, tức là có chính nghĩa.

Vì sao vậy?

Vì họ được biết rằng đất Ukraine ngày nay đang nằm trong tay một bọn phát xít. Lực lượng Phát xít mới này là hậu thân của bọn Banderovsi xưa kia đã can tội giết dân Nga và người Do Thái trong Đệ nhị Thế chiến. Ngày nay chúng vừa cướp chính quyền tại Kiev (người Nga không gọi thủ đô của Ukraine là Kyiv theo tiếng Ukraine), với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Chứng cớ ư?

Hình ảnh Nghị sĩ John McCain biểu tình tại quảng trường Maidan hoặc lời phát biểu của Phó Tổng thống Joe Biden được truyền hình Nga đưa ra dồn dập. Thêm một con số chắc nịch: giới ngoại giao Mỹ xác nhận đã chi ra năm tỷ đô la cho Ukraine!

Sự thật là thế nào? Sau khi kế nhiệm Boris Yeltsin, Putin lặng lẽ xóa bỏ chế độ tự do báo chí - mới chỉ xuất hiện từ năm 1992 rồi bị bóp nghẹt. Từ đó truyền thông Nga trở thành công cụ tuyên truyền theo một phương châm là nói đi nói lại những lời dối trá thì đấy sẽ là sự thật.

Chứ sự thật kia lại khác.

Chính trường Ukraine quả là có một đảng cực hữu được truyền thông Tây phương gọi là Neo-Nazi. Nhưng đảng này không được nổi 5% số phiếu nên chẳng có đại biểu trong Quốc hội! Còn số năm kia? Năm tỷ đô la Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine quả là sự thật do một Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ nói ra. "Từ khi Ukraine giành lại độc lập vào năm 1991, nước Mỹ đã đầu tư hơn năm tỷ đô la để giúp dân Ukraine". Dân Nga chỉ được xem thấy một giây của sự thật ấy trong một bài diễn văn dài tám phút rưỡi của nhà ngoại giao Mỹ, nên chẳng biết rằng đấy là năm tỷ viện trợ trải dài từ 1991 đến nay. Qua gần 24 năm, chứ không phải là 24 tháng hay 24 ngày qua ngả tài trợ mờ ám của CIA!

Còn nhiều con số khác nữa chứ!

Đa số dân Nga ngày nay tin rằng cuộc sống của họ có cải tiến kể từ khi Putin lên cầm quyền (làm Thủ tướng từ 1999) rồi lãnh đạo (từ năm 2000). Họ chỉ không nhớ là từ đó giá dầu đã tăng từ 14 đồng lên hơn trăm đồng một thùng, mà chẳng do công lao của Putin. Họ càng không biết rằng cái "được" về kinh tế đã che giấu nhiều cái "mất" khác. Giá dầu tăng làm tăng đồng rúp và gây đắt đỏ khiến các món hàng khác của Nga khó cạnh tranh - trừ Vodka và võ khí! Và dầu thô đã hút tư bản từ các ngành khác, khiến kinh tế Nga thực tế bị rỗng ruột và lệ thuộc nhiều hơn vào năng lượng.

Ngày nay, khi giá dầu đang và còn giảm, dân Nga sẽ được giải thích là vì tội ác của Tây phương! Họ càng oán ghét các nước Âu-Mỹ, nhất là Hoa Kỳ, và sẽ siết chặt hàng ngũ đằng sau Putin.

Sống trong các chế độ văn minh, nhiều khi ta thấy bực mình khi truyền thông có vẻ thiên vị với cánh tả - hay đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ. Chưa thấm vào đâu so với Nga.

Truyền thông Nga gõ mạnh vào bên phải của não bộ người dân để tác động vào cảm quan hơn là lý trí nằm bên trái. Mãi rồi dân Nga đã tự tạo lấy một cái lọc tâm lý để chặn hết mọi thứ thông tin nằm ngoài "dòng chính", do Putin và ban tham mưu khơi ra và be bờ rất kín. Ngưởi dân Trung Quốc và Việt Nam thật ra cũng chẳng khác dân Nga, nạn nhân của một kế hoạch tẩy não tinh vi.

Khi nhắc đến chuyện Putin, nên thấy rằng chúng ta đang trôi xuống con dốc chiến tranh lạnh. Mà hình như lại không biết.

Hết chuyện "Đại Gia Không Chết"

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 141119
Diễn đàn Kinh tế 
Vì ngân hàng quá lớn nên phải được cấp cứu - và càng ỷ thế làm bậy...
 
Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Brisbane. Australia đón tiếp các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho hội nghị thượng đỉnh G20 ở Brisbane vào ngày 15 và 16, 2014
* Australia đón tiếp các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới tại Thượng đỉnh G20 ở Brisbane vào ngày 15 và 16, 2014 - Ảnh AFP * 





Tại thượng đỉnh tuần qua của nhóm G20, một kế hoạch kiểm soát tài chính được nguyên thủ của 20 quốc gia giàu nhất thế giới thông qua nhằm chấm dứt hiện tượng gọi là "doanh nghiệp quá lớn để có thể cho phá sản". Hiện tượng đó là gì và tại sao lại có một kế hoạch kiểm soát như vậy? Mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, ta được biết là nhiều chính quyền phải tung tiền cấp cứu các ngân hàng bị nguy cơ phá sản để tránh nạn sụp đổ dây chuyền. Sáu năm sau, vào tuần qua tại hội nghị cấp cao của nhóm G-20 tổ chức ở thành phố Brisbane của Australia, nguyên thủ các nước đã phê chuẩn kế hoạch kiểm soát tài chính nhằm chấm dứt hiện tượng gọi là "quá lớn để sụp đổ". Xin ông phân tích cho thính giả của chúng ta một vấn đề quá chuyên môn như vậy. Hiện tượng gọi là "too big to fail" là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang gặp một vấn đề kỹ thuật phức tạp và thật sự có chi phối sinh hoạt kinh tế tài chính mà nhiều người lại không được biết.

- Ta nhớ rằng trong vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ năm 2008, khi tập đoàn đầu tư Lehman Brothers hay tập đoàn bảo hiểm AIG bị nguy cơ vỡ nợ, và trước đó khi hai trong ba hãng xe lớn nhất của Mỹ là Chrysler và General Motors có thể phá sản, thì một vấn đề được đặt ra. Đó là nhà nước có nên lấy tiền thuế của dân để cấp cứu các doanh nghiệp ấy không? 

- Vấn đề sở dĩ gây tranh luận không chỉ tại Hoa Kỳ mà ở bên Âu Châu và nhiều xứ khác là vì nếu nhà nước không cứu các đại doanh nghiệp ấy thì hậu quả sẽ lan qua khu vực khác. Đó là hiện tượng gọi là "quá lớn để có thể cho phá sản". Nhưng ngược lại, chính là do kích thước quá lớn với nguy cơ dây chuyền cho cả hệ thống kinh tế mà doanh nghiệp càng dễ ỷ thế làm liều, như các đại gia ỷ vào hậu thuẫn của nhà nước mà trở thành bất cẩn và lấy rủi ro lớn về kinh doanh. Tôi xin dùng một chữ cho thính giả của chúng ta dễ hiểu và dễ nhớ, đó là "hễ là đại gia thì không chết được".

Vấn đề sở dĩ gây tranh luận không chỉ tại Hoa Kỳ mà ở bên Âu Châu và nhiều xứ khác là vì nếu nhà nước không cứu các đại doanh nghiệp ấy thì hậu quả sẽ lan qua khu vực khác. Đó là hiện tượng gọi là "quá lớn để có thể cho phá sản. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Về bối cảnh thì suốt sáu năm qua các quốc gia bị lâm nạn, từ Âu Châu đến Hoa Kỳ, đều cùng tăng cường kiểm soát để không cho khủng hoảng tái diễn. Nhưng việc kiểm soát ấy tập trung vào khu vực ngân hàng vì ngân hàng mà phá sản thì cả khách nợ lẫn chủ nợ đều mắc nạn. Người ta gọi nỗ lực đó là "chấm dứt chuyện đại gia không chết".

Vũ Hoàng: Một cách cụ thể thì kế hoạch kiểm soát này thành hình như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói tiếp về bối cảnh vì vấn đề này cực kỳ khó hiểu cho nhiều người trong chúng ta. Người ta nghiệm thấy một hiện tượng tâm lý chung là khi khủng hoảng bùng nổ, thí dụ như vụ Tổng khủng hoảng năm 1929-1933, các chính quyền và thị trường đều hốt hoảng và tăng cường luật lệ kiểm soát để khủng hoảng khỏi tái diễn.

- Như Hoa Kỳ thì có Đạo luật Ngân hàng mang tên hai tác giả là Glass-Steagal Act năm 1933 để quy định là các ngân hàng thương mại mà nhận tiền ký thác của công chúng thì phải tuân thủ những tiêu chuẩn chặt chẽ về đầu tư và tín dụng hầu không lấy tiền của thân chủ mà làm bậy và gây rủi ro vỡ nợ. Nhưng sau cơn khủng hoảng, khi mọi chuyện trở thành bình thường thì người ta lại phát huy sáng tạo theo kiểu "ngựa quen đường cũ" và tháo gỡ hệ thống kiểm soát nên gây ra những rủi ro khác. Đó là khi đạo luật Ngân hàng nói trên được Chính quyền Bill Clinton thu hồi năm 1999 để các ngân hàng thương mại vẫn có thể tham gia nghiệp vụ đầu tư. Mươi năm sau thì quả nhiên là khủng hoảng tái diễn vào năm 2008 - mà không chỉ riêng ở Hoa Kỳ.

- Khi ấy, các ngân hàng trung ương có nhiệm vụ kiểm soát nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng bị đặt trước hai vấn đề khác biệt. Vấn đề thứ nhất là nhiều ngân hàng đã lấy rủi ro đầu tư quá lớn. Vấn đề thứ hai là các ngân hàng, cả đầu tư lẫn thương mại hay doanh nghiệp tài chính và chủ nợ trái phiếu, lại cho nhau vay quá nhiều. Họ dệt thành mạng lưới tín dụng chằng chịt, khiến một ngân hàng vỡ nợ thì kéo theo ngân hàng khác làm doanh nghiệp vay tiền ngân hàng bị ách tắc tín dụng là tìm không ra vốn luân lưu và khủng hoảng tài chính biến thành khủng hoảng kinh tế.

Nhưng sau cơn khủng hoảng, khi mọi chuyện trở thành bình thường thì người ta lại phát huy sáng tạo theo kiểu "ngựa quen đường cũ" và tháo gỡ hệ thống kiểm soát nên gây ra những rủi ro khác Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông, khi ấy các nước đã giải quyết hai vấn đề khác biệt này ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một đằng thì chính quyền, là chính phủ, quốc hội và ngân hàng trung ương, phải tung tiền cấp cứu ngân hàng lâm nạn qua thủ tục tôi xin tạm gọi là "chuộc nợ" hay "bail out". Trong khi đó người ta biểu quyết các đạo luật kiểm soát nghiệp vụ ngân hàng để tránh rủi ro cho tương lai. Nhưng song song, các nước còn có một nỗ lực thứ ba rất khó hiểu là bắt các chủ đầu tư vào ngân hàng phải chịu một phần thiệt hại gọi là "bail in", tôi xin dịch là "châm vốn" cho dễ hiểu. Tức là nếu làm ăn bất cẩn thì phải chịu trách nhiệm chứ không thể ỷ vào cái lưới cấp cứu của nhà nước, tức là ỷ vào tiền thuế của dân vì nhà nước có bao giờ làm ra tiền đâu?]

- Đấy là bối cảnh của những biện pháp cải cách đã được Thượng đỉnh của nhóm G-20 biểu quyết vào các năm 2009, 2010. Một cách cụ thể thì các nước lập ra một Hội đồng Ổn định Tài chính năm 2009 và qua năm sau thì đề nghị của Thượng đỉnh G-20 tại Seoul được hiệp hội các ngân hàng chấp nhận và nâng cấp thành tiêu chuẩn Basel III. Nôm na là các ngân hàng sẽ phải có thêm tài sản đảm bảo những khoản tín dụng đã cho vay và tuân thủ việc kiểm soát khắt khe hơn.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ thính giả của chúng ta mường tượng ra một phần của vấn đề khi có tin là Chủ tịch của Hội đồng Ổn định Tài chính đã công bố một kế hoạch cải cách vừa được Thượng đỉnh G-20 chấp thuận tại Brisbane tuần qua. Thưa ông, kế hoạch đó gồm có những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông Chủ tịch Hội đồng Ổn định Tài chính có phạm vi hoạt động toàn cầu hiện cũng là Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh quốc. Hôm Thứ Hai mùng 10 vào tuần trước, ông ta có trình bày kế hoạch này nhằm giải quyết một lúc hai vấn đề khác biệt mà liên hệ với nhau như tôi vừa trình bày. Tức là thứ nhất giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng với đòi hỏi phải gia tăng mức tài sản bảo đảm các nghiệp vụ cho vay và bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Thứ hai là đòi các chủ đầu tư phải tự châm vốn và nâng cao khả năng chịu lỗ chứ họ không thể trông cậy vào tiền thuế của dân. Mục tiêu thứ hai này là để mạng lưới tín dụng chằng chịt mình vừa nói ở trên sẽ có sức chịu đựng cao hơn và nếu sụp đổ thì tự bung ra từng mảng riêng chứ không lây lan qua kinh tế. Một cách nôm na dễ hiểu là nếu có gan làm giàu thì cũng phải có gan chịu lỗ.

Để kết luận thì hệ thống ngân hàng của Âu Châu có đầy kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao mà còn khủng hoảng thì loại ngân hàng tân tòng của TQ và VN mới chỉ xuất hiện sau này dưới sự bao che của đảng và nhà nước sẽ còn phải học nhiều kinh nghiệm về khủng hoảng.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Nếu chúng tôi hiểu không lầm thì từ nay các ngân hàng sẽ có thể vỡ nợ chứ không nhờ cậy vào chính quyền hay ngân hàng nhà nước. Thưa ông, có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một cách nôm na thì quả thật là như vậy. Nhưng kế hoạch này cũng làm nhiều ngân hàng thương mại xưa nay làm ăn cẩn trọng than phiền là vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn vừa phải dốc thêm tiền để đạt mức dự phòng rủi ro cao hơn.

Vũ Hoàng: Thưa ông, hậu quả của những biện pháp phức tạp này sẽ là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng ta khó có một câu trả lời chung vì tình hình ở mỗi nơi lại mỗi khác. Thí dụ như tại Hoa Kỳ hay Anh quốc, hệ thống doanh nghiệp có nhiều cách gọi vốn tinh vi và đa diện trên thị trường trái phiếu nên sẽ không gặp nhiều trở ngại. Tại Âu Châu, kế hoạch diệt trừ các đại gia ngân hàng ỷ thế làm liều có khi lại gây khủng hoảng cho khối Euro vì các doanh nghiệp loại trung và nhỏ thì chỉ huy động vốn kinh doanh qua hệ thống ngân hàng mà các ngân hàng đều sẽ bị kẹt vì phải tăng vốn. Trong ba chục ngân hàng loại lớn của thế giới, với khả năng gọi là "gây họa cho cả hệ thống thì" có 11 cái là ở tại Âu Châu. Kết cục thì biện pháp kiểm soát chủ yếu là nhắm vào các ngân hàng Âu Châu lại gây vấn đề cho kinh tế Âu Châu, ít ra là trong ngắn hạn và vì vậy lại gia tăng rủi ro khủng hoảng cho khối Euro.

Vũ Hoàng: Câu hỏi sau cùng, thưa ông, còn các ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng họ sống trong một thế giới khác!

- Trong 30 đại gia toàn cầu mình vừa nói ở trên thì có ba ngân hàng là của Trung Quốc. Nhưng đấy là các ngân hàng quốc doanh có nhà nước Bắc Kinh ở đằng sau và là công cụ cho chính sách tài trợ tăng trưởng kinh tế bất kể lời lỗ. Trung Quốc cũng chẳng tôn trọng gì những đòi hỏi cải tổ và kiểm soát của quốc tế và sẽ viện dẫn lý do là môi trường bên trong có khác thiên hạ. Vả lại, họ cũng chưa có một thị trường trái phiếu đủ rộng lớn để hỗ trợ yêu cầu tăng vốn của ngân hàng.

- Trường hợp Việt Nam cũng không khác vì hệ thống ngân hàng thương mại vẫn chủ yếu là do nhà nước làm chủ và chi phối. Nhiều ngân hàng thuộc loại cổ phần của tư nhân chỉ có cái vỏ là tư nhân chứ vẫn là cơ sở của tay chân nhà nước nên cứ ỷ thế làm liều. Lâu lâu mới có đại gia sa lưới thì cũng do những tranh đoạt quyền bính trên thượng tầng mà thôi.

- Để kết luận thì hệ thống ngân hàng của Âu Châu có đầy kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao mà còn khủng hoảng thì loại ngân hàng tân tòng của Trung Quốc và Việt Nam mới chỉ xuất hiện sau này dưới sự bao che của đảng và nhà nước sẽ còn phải học nhiều kinh nghiệm về khủng hoảng. Và thời của các "đại gia" vẫn chưa chấm dứt đâu, sau khi một mớ phải vào tù.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về một chương trình quả thật là rắc rối phức tạp.

Sunday, November 16, 2014

Múa Đôi Hoa Mỹ



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo141115

Hoa Kỳ phải quan niệm lại đối sách với Trung Quốc - từ nay đến 2016  


* Tập Cận Bình và Barack Obama tại Bắc Kinh *



Tại Thượng đỉnh APEC vừa qua ở Bắc Kinh, lãnh đạo Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt một thỏa thuận được các con vẹt Dân Chủ và bọn "ôm cây", các nhóm bảo vệ môi sinh, đánh giá là mang ý nghĩa thời đại: hai bên đồng ý về nhu cầu tiết giảm khí thải để bảo vệ địa cầu khỏi nạn nhiệt hoá trong thế kỷ này. Giới bình luận đểu cáng thì nói rằng "vào chi tiết mới ra chuyện độc", nhưng ít ra Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình đã có dịp cười toe trước ống kính về một thành quả biểu kiến. Còn lại là sự trống vắng.

Bài này bàn về chuyện lấp đầy khoảng trống đó.

Ngay từ nhiệm kỳ đầu, vào đầu Tháng Giêng 2009, Chính quyền Obama đã đánh giá sai quan hệ Mỹ-Hoa, khi Ngoại trưởng tân nhậm Hillary Clinton tới Bắc Kinh khẳng định rằng không để chuyện nhân quyền chi phối việc làm ăn giữa hai nước. Nhân đó bà kêu gọi các đấng con trời tiếp tục mua trái phiếu Mỹ, tức là tiếp tục cho Mỹ vay tiền. Clinton chẳng hiểu rằng Bắc Kinh có tiền mà không gửi qua Mỹ thì làm gì cho đồng tiền khỏi mất giá?

Hai năm sau, cũng qua ngòi bút Clinton và ý kiến của ban tham mưu trong Bộ Ngoại giao, Chính quyền Obama nói đến việc "chuyển trục" về Đông Á, làm các nước Á Châu nức lòng tin tưởng. Nhưng Chú Cuội chỉ múa với Chị Hằng được một con trăng, màn chuyển trục hay "pivot" được sửa thành "tái quân bình". Rồi để đó từ năm 2012.

Không, trước đà bành trướng của Bắc Kinh khiến các nước Á Châu lo ngại, năm 2012, Chính quyền Obama còn mời Trung Quốc tham dự cuộc thao dượt quân sự RIMPAC với 22 quốc gia trong vành cung Á châu Thái bình dương, lần đầu tiên kể từ năm 1971. Cũng hợp lý thôi: không mời em vào chơi để phơi của quý thì làm sao biết của quý của em nó quý đến cỡ nào!

Hãy nói về chuyện sinh tử hơn vậy.

Từ hai chục năm nay, qua bốn nhiệm kỳ của hai Tổng thống cả Dân Chủ lẫn Cộng Hoà, lãnh đạo Hoa Kỳ đều theo đuổi một chánh sách có tính chất lưỡng đảng - và hai mặt. Mặt tích cực là nên kết ước với Trung Quốc, cứ hợp tác làm ăn để cường quốc mới nổi này trở thành đối tác biết điều và cùng Hoa Kỳ gánh vác thiên hạ sự từ hai bờ biển Thái bình. Nhưng đồng thời cũng phải có ý phòng thủ nếu Bắc Kinh lại chẳng biết điều mà chơi bạo. Đó là mặt kia.

Chánh sách đó từ thời Bill Clinton mới cho Trung Quốc quy chế "tối huệ quốc" rồi được Quốc hội Cộng Hoà nâng cấp thành "quan hệ mậu dịch bình thường và thường trực" để mở đường cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ cuối năm 2001 và vươn lên thành một thế lực kinh tế trong vùng. Nhưng cũng Chính quyền Clinton vào Tháng Ba năm 1996 đã gửi hai hàng không mẫu hạm vào Eo biển Đài Loan khi Bắc Kinh bắn hỏa tiễn qua đầu đảo quốc này trong lúc dân chúng lần đầu tiên đi bầu Tổng thống theo thể thức phổ thông đầu phiếu.

Xin nhắc lại: lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm mà dân Tầu trực tiếp đi bầu lãnh tụ nhưng Bắc Kinh lại không ưa một tiền lệ nguy hiểm như vậy và tìm cách phá bĩnh nên mới phóng hỏa tiễn qua không phận Đài Loan để hăm dọa. Cho tới khi Mỹ gửi chiến hạm vào làm nguội cái hỏa khí trên đầu Thiên tử đỏ!

Ngay từ đây rồi, một viên tướng của Bắc Kinh đã giở giọng hỗn khi hỏi một nhà ngoại giao Mỹ: quý quốc có thể hy sinh Los Angeles hay San Francisco để bảo vệ Đài Loan không? Lối suy nghĩ ấy cho thấy rằng hai chục năm sau là ngày nay, Hoa Kỳ cần duyệt lại chánh sách hai mặt kết ước và phòng thủ với Trung Quốc. Vì phần kết ước thì có lợi cho Trung Quốc, khía cạnh phòng thủ có tính chất dương cương thì chưa có tác dụng thuyết phục.

Hai chục năm sau, lãnh đạo Bắc Kinh không biết điều hơn. Bên trong còn tập trung quyền lực và gia tăng chà đạp nhân quyền. Với bên ngoài thì uy hiếp lân bang, trong khi không che giấu tham vọng quân sự là kiểm soát vùng Tây Thái bình dương được gọi là "quyền lợi cốt lõi" Lý luận ngoại giao thì đầy chất mị dân: "Á châu là của người Á" - không phải của Mỹ. Mà người Á ở đây là "thiên hạ" ngàn đời dưới sự lãnh đạo của Thiên triều. Về mặt quân sự đang tiến hành thì đó là chiến lược ngăn cản chiến hạm  Hoa Kỳ đi vào vùng biển mà Trung Quốc gọi là của mình.

Sự thật này đã càng tỏ lộ trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống George W. Bush, khi Mỹ lún sâu vào trận chiến chống khủng bố toàn cầu và bận rộn với hai chiến trường nóng là Afghanistan và Iraq. Vì vậy, người ta chờ đợi là qua triều đại Obama, từ đầu năm 2009, lãnh đạo Hoa Kỳ phải có chánh sách mới.

Quả nhiên là mới - và lạ. Hoa Kỳ tiếp tục kết ước và còn ra sức hòa dịu với Bắc Kinh để Tổng thống rộng tay cải tạo nước Mỹ ở bên trong. Khi Trung Quốc tỏ vẻ hung hăng thì Obama nói đến việc chuyển trục cho bảnh, rồi cho cái trục xoay trong chân không. Khi Ngoại trưởng Cliton tới Bắc Kinh mời chào trái phiếu của Mỹ thì cũng là lúc ngân sách Hoa Kỳ bị bội chi tới đáy. Vài năm sau, khi Hoa Kỳ hăm dọa sẽ đưa 60% phương tiện hải quân vào biển Thái bình thì cũng là lúc ngân sách quốc phòng bị cắt.

Chẳng ai ngạc nhiên là Bắc Kinh nhân dịp mở rộng khu vực kiểm soát phòng không ADIZ, thè cái lưỡi bò đòi liếm lung tung và tung phương tiện vào không gian điện toán để xục xạo bí mật an ninh và kinh tế của Hoa Kỳ. Sáu năm vừa qua đã thấy quan hệ Mỹ-Hoa trở nên tồi tệ hơn và nước Mỹ mất dần sự khả tín. Đồng minh không tin mà đối thủ cũng chẳng sợ.

Nhưng may là Hoa Kỳ có nền dân chủ và sau khi mua hớ những lời hứa nhảm thì dân Mỹ cũng có thể sửa sai bằng lá phiếu. Trong cuộc bầu cử tuần qua, họ mạnh tay trao lại quyền kiểm soát cho đảng Cộng Hoà tại Quốc hội. Và trong hai năm tới, Hành pháp Obama rơi vào cảnh "vịt què"....

Hiến pháp Hoa Kỳ giới hạn quyền Tổng thống bằng các định chế bên trong như Quốc hội hay Tối cao Pháp viện. Khi lâm vào thế yếu và muốn để lại danh tiếng cho đời thì một Tổng thống Mỹ vịt què chỉ có thể tìm kiếm thành quả về đối ngoại - qua một bản hiệp định về khí hậu chẳng hạn! Nhưng với đảng Cộng Hoà đa số tại Thượng viện, quyền phê chuẩn hay nhượng bộ cũng lọt khỏi tay đảng Dân Chủ. Và sau cuộc bầu cử 2014, dân Mỹ còn có tổng tuyển cử vào năm 2016.

Trong hai năm tới, phe Cộng Hoà sẽ rà soát và xiết lại những nhượng bộ đã qua và vì viễn ảnh bầu cử Tổng thống năm 2016, phải vạch ra một đối sách khác với Trung Quốc. Hai năm đó cũng là giai đoạn khó khăn cho lãnh tụ Tập Cận Bình khi phải cải cách kinh tế ở nhà, với đà tăng trưởng giảm sút chưa từng thấy từ mấy chục năm nay, trong khi đồng Mỹ kim cứ vùn vụt lên giá.

Bối cảnh đó khiến chúng ta lần lượt xét lại việc Trung Quốc và Hoa Kỳ tái lập cái thế quân bình trên vùng biển Thái bình dương trước sự thẩm xét của các nước Á châu. Và chỉ nên coi dự án cải thiện khí hậu như một điệu vũ cho vui.

Một cảnh múa đôi huê dạng.

Viếng Marx



Hùng Tâm / Người Việt 141112
"Hồ Sơ Người-Việt"

Từ Bá Linh 89 Đến Thành Đô 90

 * Hình ảnh lịch sử Tháng 11 năm 1989 khi bức tường Berlin bị đập tan tành *


Một phần tư thế kỷ sau khi bức tường Bá Linh bị đập, dường như địa cầu lại xoay về chốn cũ.

Các nước Đông Âu có thể được giải phóng khỏi hai tai ách là chủ nghĩa cộng sản và sự thống trị của nước Nga, nhưng cái trục của tội ác trên đại lục Âu Á là Đế quốc Nga và Trung Quốc thì vẫn nằm dưới sự cai trị của hai lãnh tụ tập quyền là Vladimir Putin và Tập Cận Bình. Vì sao vậy?

"Hồ Sơ Người-Việt" xin đi sâu hơn thời sự để tìm ra giải đáp đôi khi có lợi... cho Việt Nam.


Chủ Nghĩa Marx Tiêu Vong?


Trước hết, việc bức tường chia đôi thành phố Berlin bị dân chúng đập nát vào ngày chín Tráng 11 năm 1989 để nước Đức được thống nhất dưới chế độ dân chủ và thoát khỏi vòng Nga thuộc thực tế đánh dấu sự tiêu vong của chủ nghĩa Marx, hay Marxism. Một thế hệ sau, là ngày nay, nhiều người không còn nhớ, và giới trẻ thì chẳng thể ngờ, rằng đã có một thời mà chủ nghĩa này khống chế tư duy của một phần nhân loại - và đem lại niềm mơ ước cho nhiều dân tộc.

Karl Marx, ít ra vào thời trẻ, không chỉ mô tả sự vận hành của xã hội con người một cách có vẻ khoa học mà còn đưa ra những lời tiên báo đầy hấp dẫn về tương lai nhân loại. Trong lời tiên báo ngụy danh là khách quan và khoa học, Marx còn châm thêm yếu tố luân lý. Thực hiện những tiên tri của Marx trở thành một đòi hỏi đạo đức.

Tuổi trẻ ở nhiều nơi trên thế giới bị mê hoặc bởi lý luận vừa khoa học vừa đạo lý ấy. Trong số này, có một thanh niên lưu manh láu cá là Nguyễn Tất Thành.

Và ở ngoài vòng toàn trị của hệ thống Xô viết, các nước Âu châu và nhiều xứ khác đã từ chủ nghĩa Marx mà đề cao tính chất tiến bộ (nội dung của khoa học) và công bằng (nội dung của đạo đức) của phong trào tự xưng là "Tân Tả" mà thực chất là cực tả. Khuynh hướng này tự cho là cách mạng và tiến bộ hơn chủ trương thiên tả cổ điển (Cựu Tả) của phong trào Đệ nhị Quốc tế (đảng Xã hội hay Lao động trong các nước dân chủ).

Áp dụng lý luận cách mạng của Lenin, Liên bang Xô viết và cả Trung Cộng đã cổ võ và yểm trợ phong trào Tân Tả ấy. Họ khích động và còn góp phần huấn luyện tuổi trẻ trong các xứ dân chủ (gọi là tư bản) theo đuổi giấc mơ cách mạng bằng hành động quá khích, kể cả khủng bố, bắt cóc và phá hoại. Ngày nay, nhiều người không còn nhớ hiện tượng đó và quên các nhóm khủng bố như Lữ Đoàn Đỏ, Con Đường Sáng, Chủ nghĩa "Mao-ít".... Họa may thì còn nhớ Khờme Đỏ!


Tuổi Trẻ Là Giai Cấp Tiên Tiến


Ngoài tính chất ý thức hệ - phần đóng góp của Marx, Lenin và Stalin (và Mao Trạch Đông sau này) - người ta còn thấy một đặc tính khá Âu châu của hiện tượng. Đó là sự tôn sùng tuổi trẻ.

Tinh thần duy lý Âu châu khiến nhiều người cho rằng theo mới là tiến bộ, và họ chấp nhận một định đề không thể bàn cãi: trẻ là có giá trị hơn già. Trên ba chục tuổi thì chỉ là đồ bỏ! Giấc mơ thông tục của nhiều người trung niên, là có việc làm, mua nhà, tậu xe, để có gia đình con cái, bị tuổi trẻ cho là phản động, tiểu tư sản, trưởng giả và tầm thường.

Tuổi trẻ đương nhiên đồng nghĩa với cách mạng!

Trở thành một giai cấp mới, họ ôm giấc mơ cách mạng vượt xa khuôn khổ đấu tranh giai cấp của Marx. Họ tấn công sự già nua lạc hậu của xã hội người lớn. Nhận thức của nhiều người, kể cả trong các thành phố Việt Nam, về cuộc chiến tại Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi trào lưu đó từ Âu châu. Và được Hà Nội tận tình khai thác. Những con rối của "Lực lượng Thứ ba" múa may tại Sàigon cũng xuất phát từ hiện tượng này.

Ngày nay, nhiều người chẳng còn nhớ rằng đấy là một mớ hỗn độn và mâu thuẫn của chủ nghĩa Marx, của tuổi trẻ tiến bộ, của tinh thần chống Mỹ, của nghiệp vụ KGB. Và cũng quên rằng đã có thời nguời ta ý luận hoà bình chỉ thành hình qua bạo động trong các nước dân chủ. Trong các nước theo chủ nghĩa Marx thì không thể có nghịch lý đó.

Nói cho phũ phàng, tuổi trẻ đã được thổi phồng và bị kẻ gian lợi dụng.


Chủ Nghĩa Mác-Lê Cấp Cứu

Với nhiều người, việc bức tường Bá Linh sụp đổ đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa Marx.

Nhưng người lạc quan về xu hướng dân chủ tất yếu – một quy luật khách quan cũng tất định như lý luận của Marx - lại chẳng thấy rằng phong trào Tân Tả năm xưa vẫn tồn tại. Những kẻ tự xưng là cách mạng đó cho rằng chế độ Xô viết đi ngược với lý luận của Marx, đã phản bội chủ nghĩa cộng sản, chứ chủ nghĩa này vẫn có giá trị.

Nhiều người mới tinh vi hóa lý luận của Marx qua chủ nghĩa Mác-Lenin và cách tổ chức lại kinh tế và xã hội theo kiểu độc tài rất xứng tài Stalin.

Thí dụ như sau vụ khủng hoảng Thiên An Môn và sau khi bức tường Bá Linh tan rã, Bắc Kinh vuốt nhọn giải pháp cứu vãn chủ nghĩa cộng sản bằng kinh tế thị trường mà thực chất là cứu vãn quyền độc tài của một đảng tự xưng là cộng sản. Họ cho rằng vụ bức tường Bá Linh chỉ là tai nạn xuất phát từ sai lầm của Michael Gorbachev. Chứ hình như là Marx vẫn có lý!

Việt Nam học tấm gương đó của Trung Quốc mà rơi vào hố thẳm của một chủ nghĩa khác.

Sau biến cố Bá Linh 89, nhiều nhà tư tưởng cho rằng trào lưu dân chủ toàn cầu là quy luật chung của nhân loại. Họ quên một động lực tiềm ẩn vẫn còn chi phối chánh sách của nhiều quốc gia. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc được đề cao để bảo vệ chủ nghĩa đế quốc. Hai cái trục tội ác ở đại lục Âu-Á cũng là nơi phát huy chủ nghĩa đế quốc đó, tại Liên bang Nga và Trung Quốc.


Chủ Nghĩa Đế Quốc Nga Hồi Sinh


Khi nhớ lại bức tường đổ, chúng ta phải trở về nguyên thủy, từ Liên Xô đến Trung Cộng.

Không có Lenin thì chủ nghĩa Marx chỉ là một chuỗi lý luận hàm hồ và phản khoa học. Lenin khai triển lý luận về chuyên chính vô sản bằng những tư tưởng toàn trị và hoàn thành cách mạng vô sản ở nơi mà Mark không ngờ tới, tại nước Nga. Nhưng người tiêu diệt cái lý tưởng hay ảo tưởng của Marx chính là Stalin, một lãnh tụ mà Mao cho là duy nhất đáng kính trọng.

Stalin không tiến hành đấu tranh giai cấp như Marx dự báo mà khuynh đảo cả đảng cách mạng lẫn dân Nga và nhiều sắc tộc khác. Sau đó, Mao cũng chẳng làm khác tại Trung Quốc. Việc xây dựng "con người Xô viết" là dự tưởng điên khùng cho nên về sau chữ gọi "Homo Sovieticus" mới trở thành lời châm biếm. "Con người mới xã hội chủ nghĩa" của Hồ Chí Minh là một sao bản của sự điên khùng này.

Sau khi Krushchev giải trừ ảnh hưởng của Stalin - với hậu quả dội vào Trung Quốc rồi miền Bắc Việt Nam – ông ta cũng muốn xây dựng lại "chủ nghĩa cộng sản đích thực" không có màu sắc Stalin, mà thất bại và Liên Xô tụt hậu. Các lãnh tụ đã lật đổ Krushchev như Leonid Brezhnev, Alexei Kosygin hay Nikolai Podgorny chẳng làm gì hơn là chứng tỏ khả năng tồn tại dưới chế độ Stalin. Lãnh đạo lâu nhất (18 năm) sau ba chục năm hắc ám của Stalin, Brezhnev chỉ lo củng cố quyền lực hơn là canh tân nước Nga và chế độ mới lụn bại vô phương cứu vãn.

Từ biến cố Bá Linh 89, sau khi Liên Xô tan rã, Boris Yeltsin không xây dựng được dân chủ mà cũng chẳng hiện đại hóa xứ sở cho tới khi trao quyền cho Vladimir Putin. Trong 15 năm cầm quyền, Putin ưu tiên củng cố quyền lực và tìm ra một động lực khác. Không phải chủ nghĩa Marx đã phá sản hoặc chưa bao giờ là "hiện thực", mà là chủ nghĩa Đại Nga, với đặc tính tôn giáo là Chính thống giáo, đặc tình sắc tộc là dân Nga la tư da trắng và đặc tính chính trị là tập quyền.

Nghỉa là sau chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa dân tộc cũng biện minh cho độc tài.



Chủ Nghĩa Đại Hán Tái Xuất Hiện


Ở cực bên kia, Đặng Tiểu Bình có viễn kiến và bản lãnh hơn Brezhnev của Nga.

Ông ta không chỉ hài lòng với việc ba lần "thăm chuồng bò" – là bị cải tạo - mà vẫn tồn tại dưới chế độ Mao. Đặng làm cách mạng thật - nhưng ngược với lý luận của Marx - và xây dựng chế độ với phương pháp của Lenin và Stalin. Hậu duệ của ông, các thế hệ Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình ngày nay đã tiếp tục việc đó, ngày một tinh vi hơn, với nhiều phương tiện hơn trước.

Nhưng trên đỉnh của sự phục hưng sau 150 năm lụn bại, các lãnh tụ của Bắc Kinh tìm lại truyền thống cũ, là ưu thế "bất khả tư nghị", không thể cãi bàn, của chủ nghĩa Đại Hán. Cách mạng kiểu Marx là sự lỗi thời, nhưng phương pháp cộng sản là khí cụ hiện đại để phát huy sức mạnh của Hán tộc. Còn khẩu hiệu "bốn phương vô sản là nhà" chỉ là sản phẩm xuất cảng, mà chỉ xuất cảng cho Việt Nam. Nói cho đúng hơn là chỉ bán cho Ba Đình, cho đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi điểm lại biến cố Bá Linh 89, người Việt chúng ta không nên quên vài sự kiện.

Sau khi Gorbachev tiến hành cải cách glasnost và perestroika để cứu chế độ, có bốn lãnh tụ Đông Âu chống lại nỗ lực này. Họ bị Gorbachev gọi là "Bè lũ bốn tên". Cũng tứ nhân bang! Trong số đó, Erick Honecker của Đông Đức là nhân vật bảo thủ nhất. Ba người kia là Nicolae Ceaucescu của Romania, Gustav Husak của Tiệp Khắc và Todor Zhikov của Bulgaria.

Khi dân Đông Đức bắt đầu biểu tình vào mùa Thu 1989, cũng lại là một "Cách mạng mùa Thu, và thậm chí rượt đuổi Honecker, thì cũng là lúc Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đang thăm nước Đức tiên tiến của xã hội chủ nghĩa. Ông ta giật mình về biến cố cực kỳ bất ngờ này.

Sự hốt hoảng rồi tuyệt vọng của một lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam mới dẫn tới Hội nghị Thành Đô vào năm 1990. Nghĩa là lãnh đạo Cộng sản Việt Nam tìm chỗ tựa là Trung Cộng để rồi rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa Đại Hán. Và mở ra thời Bắc thuộc mới, với màu sắc Cộng sản.


__________________________

Kết luận ở đây là gì


Sau khi mê hoặc thế giới không cộng sản, chủ nghĩa Marx là sự hàm hồ đã tiêu vong cùng gạch vụn của bức tường Bá Linh. Nhưng nhiều phương pháp gian ác của các nước cộng sản thì vẫn tồn tại. Phương pháp đó mới độc địa hơn những lý luận của Marx.

Việt Nam chẳng đóng góp gì cho sự nghiệp quốc tế đó. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự cóp nhặt nhảm nhí. Khi lãnh đạo Cộng sản Việt Nam tiếp tục con đường sai lầm của Marx thì xứ sở tất nhiên tụt hậu.

Một hậu quả của việc bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989 là Việt Nam càng thêm lệ thuộc Trung Quốc. Chỉ vì lãnh đạo Hà Nội muốn bảo vệ một ý thức hệ lỗi thời....

Còn gì bất ngờ hơn sự phi lý này?