[Ga: een map omhoog, voorpagina, ]

VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 19:42 | 22/08/2014 (GMT+7)
.
Cái cần là quản lý nội dung in
16:11 | 18/06/2012
Việc ban hành Luật Xuất bản (sửa đổi) nhằm hoàn chỉnh hành lang pháp lý để vừa giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn, vừa điều chỉnh được những quan hệ mới phát sinh trong hoạt động xuất bản, đồng thời tạo điều kiện để lĩnh vực xuất bản tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt nhiệm vụ định hướng văn hóa, tư tưởng và phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công tác hợp tác trong hoạt động xuất bản…

ĐBQH Điểu Huỳnh Sang (Bình Phước):  Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ nên giữ vai trò quy định, giám sát và kiểm tra việc thi hành
 
Một trong những điểm đột phá trong Luật Xuất bản năm 2004 là thủ tục đăng ký xuất bản. Theo đó, nhà xuất bản chỉ cần đăng ký danh mục cho Bộ, còn kế hoạch xuất bản sẽ do cơ quan chủ quản phê duyệt. Việc bỏ xin xác nhận đăng ký xuất bản đã đem lại sự chủ động trong kinh doanh và góp phần không nhỏ trong sự phát triển của ngành xuất bản hiện nay. Nhưng trong dự thảo Luật mới lại quy định giấy phép con này và theo đó, với phần xuất bản phẩm, nhà xuất bản phải đăng ký gửi Bộ và chỉ được xuất bản khi được Bộ xác nhận bằng văn bản. Vậy, nên chăng có trở lại giấy phép con đối với tất cả các cơ sở in như trong dự thảo Luật hay không? Liệu quy định như vậy có mâu thuẫn với một số dự án luật hiện nay hay không, chẳng hạn như Luật Doanh nghiệp năm 2005. Hiện nay, có quá nhiều quy định tập trung về Bộ và lẽ ra nên phân cấp cho địa phương. Theo tôi, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ nên giữ vai trò quy định giám sát và kiểm tra việc thi hành các quy định của Luật Xuất bản. Còn việc thực hiện các quy định thì phân cấp để địa phương thực hiện vì nếu quy định quá tập trung về Bộ và việc gì Bộ cũng đảm đương thì rất khó thực hiện trong thực tiễn.

Về bản xuất bản phẩm điện tử, trong dự thảo Luật chỉ chú trọng sửa đổi các điều, khoản cũ mà chưa bắt kịp được với thực tế hiện tại. Điều tôi băn khoăn nhất là dự thảo Luật gần như bỏ sót một lĩnh vực khá quan trọng là xuất bản dưới hình thức điện tử. Những đề cập trong xuất bản phẩm điện tử trong dự thảo Luật này lại đề cập khá sơ sài. Ở Điều 25 quy định một cách chung chung và giao trách nhiệm cho Chính phủ. Trong khi hiện tại lĩnh vực này chưa hề được kiểm soát và trong thực tế có rất nhiều sách được chuyển đổi từ xuất bản phẩm in sang xuất bản phẩm điện tử đều không có bản quyền và với đà phát triển như thế này nếu không có biện pháp xử lý và không có chế tài thì loại hình xuất bản phẩm này sẽ dẫn đến nguy cơ biến tướng rất khó lường. Sách điện tử sẽ như “cậu cả” về phía người dùng lẫn nhà kinh doanh sản phẩm và được dự báo là tương lai của ngành xuất bản. Tôi không tán thành với ý kiến giải trình của Ban soạn thảo về việc quy định xuất bản phẩm điện tử. Vì giải trình như vậy chỉ mang tính nguyên tắc về mặt quản lý chứ không mang tính dự báo của sự phát triển ngành xuất bản trong thực tế. Vì vậy, tôi đề nghị Ban soạn thảo cần quy định cụ thể nội dung xuất bản phẩm điện tử vào trong dự thảo Luật để khi đi vào thực thi tránh tình trạng luật mới sửa đổi trong thời gian ngắn lại tiếp tục sửa đổi.

Đối với việc liên kết xuất bản, hiện nay, xuất bản phẩm liên kết của các nhà xuất bản với các cơ sở phát hành sách chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 70%, thậm chí có nhà xuất bản liên kết tới hơn 90% tổng số các xuất bản phẩm hàng năm. Với thành quả đạt được của ngành xuất bản hiện nay thì không thể phủ nhận vai trò của các đơn vị tư nhân trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là việc thực hiện các xuất bản phẩm liên kết. Tuy nhiên, cũng có một số bất cập trong liên kết xuất bản như nhiều nhà xuất bản không kiểm soát được nội dung và chất lượng sách liên kết do không nắm được thị trường và chạy theo lợi nhuận. Một điều đáng nói là mặc dù thực hiện trên danh nghĩa liên kết xuất bản, song hầu hết các khâu như tuyển chọn bản thảo, thẩm định, biên tập, in ấn, phát hành đều do các đơn vị tư nhân thực hiện, trong khi đó nhà xuất bản chỉ đóng góp duy nhất là giấy phép xuất bản và trách nhiệm hậu kiểm của các nhà xuất bản cũng chưa được thực hiện đến nơi, đến chốn, dẫn đến việc cho ra đời nhiều cuốn sách có nội dung vô bổ, thiếu tính định hướng cho độc giả, thậm chí có tác phẩm sau khi ra đời đã gây bức xúc trong dư luận. Qua thực tiễn cho thấy những sai phạm và hình thức xử lý hiện nay vẫn thường là tạm đình chỉ phát hành, thẩm định lại hoặc nhiều hơn là thu hồi, cấm phát hành, tiêu hủy và điều này cho thấy liên kết, nhưng lại thể hiện tính manh mún, thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động xuất bản và việc xử lý và khắc phục sai phạm trong lĩnh vực này khó cả về hành lang pháp lý và vấn đề thực thi. Và trong dự thảo Luật sửa đổi lần này cũng rất ít đề cập đến trách nhiệm của các đơn vị tư nhân và nhiều quy định chưa rõ ràng, đầy đủ gây khó khăn cho các đơn vị quản lý. Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo cần bổ sung các chế định và tăng cường chế tài xử lý các vi phạm, kịp thời điều chỉnh đối với một số vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Đồng thời quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm cụ thể của các doanh nghiệp tư nhân khi tham gia vào hoạt động liên kết trong xuất bản.
 
ĐBQH Lù Thị Lừu (Lào Cai): Vì sao hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân lại chưa được đồng nhất?
 
Điều 7 quy định chính sách phát triển hoạt động về xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm gồm 3 khoản và quy định cho 3 lĩnh vực khác nhau. Quan điểm của tôi ủng hộ chính sách ưu đãi hỗ trợ để các nhà xuất bản in và phát hành xuất bản phẩm hoạt động thuận lợi. Tuy nhiên, còn một số vấn đề tôi băn khoăn và chưa đồng tình.

Thứ nhất, tại điểm d, đ, e, Khoản 1 quy định còn rất chung chung, dẫn chiếu sang Khoản 2, lĩnh vực in, xuất bản phẩm. Khoản 3, phát hành xuất bản phẩm thì đều được hưởng chế độ chính sách ưu đãi như tại điểm d, đ, e của Khoản 1 điều này. Nếu như quy định như vậy có nghĩa rằng các cơ sở hoạt động xuất bản đều được hưởng chế độ chính sách ưu đãi của nhà nước như nhau. Theo tôi đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xuất bản in, phát hành cần phục vụ cho lĩnh vực an ninh quốc phòng, cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa cần được sự hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước là hợp lý. Còn đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động chủ yếu cho mục đích kinh doanh thì cần phải quy định rõ hình thức hỗ trợ lĩnh vực nào hay được ưu đãi ở mức độ hợp lý cụ thể hơn. Vì vậy, tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu và xác định rõ cần quy định lại hình thức ưu đãi theo thứ tự ưu tiên, theo loại hình tổ chức và đối với loại hình cơ sở nào cần được ưu đãi, loại hình cơ sở nào cần được hỗ trợ của Nhà nước để xứng tầm với hoạt động xuất bản theo từng lĩnh vực.

Hai, về xử lý vi phạm tại Điều 30, Điều 36 và Điều 47. Về hình thức quy định trong luật, tại Khoản 1 của cả ba điều trên quy định đối với tổ chức còn Khoản 2 quy định đối với cá nhân. Đặt vấn đề rằng tại sao lại quy định riêng giữa tổ chức và cá nhân trong khi đó nội dung hành vi vi phạm của Khoản 2 lại dẫn chiếu sang nội dung tại các điểm của Khoản 1 nhưng hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân lại chưa được đồng nhất giữa hai khoản này. Theo tôi, bất cứ tổ chức hay cá nhân nào đã vi phạm pháp luật như nhau thì đều phải xử lý công bằng trước pháp luật. Hơn nữa, nếu quy định như vậy trong dự thảo Luật thì sẽ rất dài dòng và rườm rà. Vì thế tôi đề nghị Ban soạn thảo gộp lại Khoản 1, Khoản 2 của ba điều, Điều 30, 36, 47 thành một khoản vừa ngắn gọn vừa bao quát hết các nội dung về hình thức xử lý vi phạm.

Về nội dung xử lý vi phạm tại Điều 30, 36, 47, tôi chưa nhận thấy nội dung nào quy định về xử lý đối với các cơ quan quản lý nhà nước mà chỉ dừng lại ở mức độ bồi thường thiệt hại cho các cơ sở hoạt động. Vậy giả sử việc cấp phép sai không đúng thẩm quyền thì xử lý thế nào. Trường hợp không thực hiện đúng trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước thì xử lý ra sao và cũng theo báo cáo trong 6 năm thực thi luật đã nhận định việc in lậu, in trái phép và nhiều hành vi vi phạm khác vẫn chưa được ngăn chặn kịp thời và triệt để gây bức xúc trong dư luận xã hội. Điều đó cho thấy, ngoài những bất cập của các văn bản luật thì đi kèm theo đó là việc kiểm tra, giám sát, quản lý của cơ quan chức năng nhà nước còn thiếu chặt chẽ. Tôi thiết nghĩ việc sửa luật là tạo hành lang pháp lý hoàn thiện các văn bản pháp luật không chỉ mục đích nhằm điều chỉnh các cơ sở hoạt động in xuất bản mà cần phải điều chỉnh cả lĩnh vực quản lý nhà nước. Vậy để hạn chế tình trạng in lậu, xuất bản lậu hoặc hoạt động trái phép thì phải có sự kết hợp hài hòa giữa việc thực thi luật của các cơ sở hoạt động in xuất bản và cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời để nâng cao trách nhiệm hơn nữa của các cơ quan quản lý nhà nước, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung nội dung quy định về xử lý vi phạm, có chế tài mạnh hơn nữa đối với các cơ sở hoạt động in xuất bản phát hành và nhất là trong lĩnh vực xuất bản phẩm điện tử, cần có chế tài xử lý đủ mạnh hơn. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này, tôi nghĩ nên có quy định xử lý đúng mực hơn.

ĐBQH Lê Ngọc Hoàn (Nam Định): Xuất bản phẩm điện tử, sách điện tử cũng cần phải có giấy phép xuất bản như một xuất bản phẩm bình thường   
 
Hiện nay, do các quy định về thành lập cơ sở in rất thông thoáng, dễ dàng nên số lượng các cơ sở in tăng nhanh, dẫn đến nguồn cung vượt cầu, thị trường in cạnh tranh gay gắt. Mặt khác, nhà nước lại chưa có chế định để quản lý một cách hữu hiệu nên in lậu, in giấy tờ giả của cơ quan quản lý nhà nước gia tăng, khó kiểm soát và đang trở thành vấn nạn của xã hội, đang có nguy cơ “giết chết” ngành sản xuất chân chính, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Không những thế, vấn nạn này còn tiếp tay, cho không ít người gian dối về trình độ học vấn bằng hình thức sử dụng bằng cấp giả, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân bằng các giấy tờ quản lý nhà nước giả như sổ đỏ giả, giấy chứng nhận quyền sở hữu đất giả, trái phiếu, giấy tờ có giá, hóa đơn tài chính giả, bao bì, nhãn mác giả, đặc biệt là các bao bì dược phẩm giả đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi, sức khỏe của người tiêu dùng. Vì vậy, việc nghiên cứu để sửa đổi Luật Xuất bản về tổ chức và hoạt động lĩnh vực in, xuất bản phẩm là vấn đề hết sức cấp bách, nhằm khắc phục, giải quyết, hạn chế bất cập đang tồn tại trong thời gian vừa qua, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động in phát triển lành mạnh trong thời gian tới.

Điều 10 về những hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản, so với luật cũ dự thảo Luật sửa đổi chỉ thêm Khoản 5 các hành vi khác bị cấm theo quy định của pháp luật. Cách quy định ngắn gọn như vậy sẽ không thể khắc phục được nạn in lậu, in giả, cũng chưa ngăn được việc xuất bản những tác phẩm có nội dung không lành mạnh, kích động bạo lực, khiêu dâm, vi phạm thuần phong mỹ tục... Tôi đề nghị trong dự thảo Luật cần quy định rõ hơn về những hành vi bị cấm để luật có thể đi ngay vào cuộc sống thay vì chờ Nghị định, Thông tư như các luật khác.

Cần phải có biện pháp chế tài, xử lý các vi phạm bản quyền đối với xuất bản phẩm điện tử, sách kỹ thuật số và nên xem sách điện tử là đối tượng của Luật Xuất bản (sửa đổi), vì hiện nay có nhiều loại thiết bị điện tử có chức năng đọc sách và dễ dàng cài đặt các phần mềm đọc sách để sao chép miễn phí hàng nghìn tác phẩm, tiểu thuyết, truyện nhưng tất cả đều không có bản quyền. Không công bằng khi một cơ sở in lậu chỉ sai phạm một vài cuốn sách, tên sách, trong khi đó các máy điện tử như ipad sao chép cả nghìn tên sách nhưng không thể xử lý được. Sách in lậu cũng có thể đối phó được vì chúng vẫn có thể được bán ra trên thị trường, nên chỉ là cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã in. Còn với sách điện tử sao chép lậu thì chưa có chế tài, trong khi đó lại là chuyện vi phạm bản quyền nghiêm trọng và ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường xuất bản, phát hành sách, ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp sách và xuất bản. Do đó, theo tôi xuất bản phẩm điện tử, sách điện tử cũng cần quy định phải có giấy phép xuất bản như một xuất bản phẩm bình thường và phải có các biện pháp, chế tài xử lý các vi phạm bản quyền đối với xuất bản phẩm điện tử.

Ngoài ra, dự thảo Luật cũng phải thể hiện quyết tâm đổi mới cơ chế quản lý hoạt động xuất bản, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, thực hiện phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng giữa Trung ương, địa phương và cơ sở; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản. Cơ quan quản lý nhà nước chuyển vai trò từ kiểm soát sang giám sát hoạt động của các nhà xuất bản, cơ sở in, phát hành và tập trung vào trách nhiệm chính là hoạch định chính sách, giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, đẩy mạnh cơ chế đổi mới cơ chế quản lý ở cơ sở, cải cách hành chính.
 
ĐBQH Nguyễn Thị Bạch Ngân (Bà Rịa - Vũng Tàu): Khoảng 1.100 cơ sở chỉ đăng ký hoạt động chứ không phải cấp phép hoạt động…
 
Kể từ khi Luật Xuất bản ra đời năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2008, hoạt động xuất bản đã có những bước phát triển tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực đạt được cũng còn những bất cập tồn tại; một số vấn đề còn chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ ràng, từ đó thiếu cơ sở pháp lý để quản lý và tạo điều kiện phát triển hoạt động xuất bản. Chính vì vậy, việc ban hành Luật xuất bản (sửa đổi) là cần thiết.

Phạm vi của dự thảo Luật chỉ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến xuất bản phẩm, trong khi tại Điều 31, Khoản 2 có quy định về quản lý thành lập các cơ sở in khác. Việc thành lập các cơ sở in này phải đăng ký hoạt động với UBND tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay quản lý hoạt động không phải in xuất bản phẩm rất nhiều, theo thống kê thì số liệu khoảng 1.100 cơ sở chỉ đăng ký hoạt động chứ không phải cấp phép hoạt động, từ đó dẫn đến những hoạt động tiêu cực trong quá trình cơ sở in hoạt động. Hiện nay những thiết bị in công nghệ cao thì có thể in được các xuất bản phẩm, do vậy, nếu không quản lý đối tượng này cũng không yên tâm lắm. Tôi rất băn khoăn về vấn đề hiện nay chưa đưa quản lý về các cơ sở in khác này vào trong luật. Tôi cũng chưa hiểu rõ là Ban soạn thảo sẽ quy định, điều chỉnh vấn đề này trong luật khác hay là văn bản lý luận. Đề nghị phải có quy định chặt chẽ về lĩnh vực này, tránh tình trạng in lậu rất nguy hiểm như hiện nay, in các văn bằng chứng chỉ giả, in để hoạt động tuyên truyền phản động. Những cơ sở in này nếu không đưa vào cũng khó quản lý.

Điều 23 quy định xuất bản phẩm cần thẩm định nội dung những xuất bản phẩm nếu nội dung có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 10 của luật này, nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định trước khi đăng ký xuất bản. Tôi đề nghị sửa từ "cần" bằng từ "phải" để đồng nhất với quy định trong nội dung của điều luật này, vi phạm này chúng ta phải thẩm định chứ không phải cần thẩm định.

Điều 19 về nhiệm vụ, quyền hạn của tổng giám đốc, tôi đề nghị tổng giám đốc ngoài việc chịu trách nhiệm xây dựng tổ chức bộ máy nhân lực của nhà xuất bản, còn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản và trước pháp luật và tài chính kinh tế của nhà xuất bản.

Tôi tán thành trong lần sửa đổi này cần có quy định về chế độ để cho người thẩm định các xuất bản phẩm của cơ quan quản lý nhà nước. Trước đây không có quy định về chế độ trợ cấp này, cho nên trách nhiệm của “anh” duyệt các xuất bản phẩm không cao, có khi đọc qua loa hoặc giao cho cấp dưới của mình để thẩm định những dự án này. Trong dự thảo luật đã đưa vấn đề trợ cấp để tăng cường trách nhiệm của người thẩm định các xuất bản phẩm. Tôi nhất trí với các quy định này.
 
ĐBQH Phạm Đức Châu (Quảng Trị): Cái mà chúng ta cần là quản lý nội dung in…
 
Việc sửa đổi luật là cần thiết vì xuất bản không phải chỉ bình thường mà có ý nghĩa an ninh, quốc phòng, chính trị. Trong thực tiễn, xuất bản phẩm có sơ hở, tình trạng lậu, nhân bản không được phép quá số lượng... thậm chí cả những xuất bản phẩm phản động. Tôi nghĩ vấn đề chính không phải do luật, do công tác quản lý nhà nước. Nếu nói do quản lý nhà nước thì phải tăng cường quản lý nhà nước công tác thanh tra, kiểm tra; nói vì quản lý nhà nước mà bổ sung vào đây một số quy định đi ngược với xu thế là đơn giản hóa thủ tục, thậm chí đề ra những quy định khác, tôi nghĩ không cần thiết. Tôi ví dụ ông thợ rèn sản xuất dao không phải để giết người nhưng nếu như giết người dùng dao, công an quản lý các thợ rèn cũng không được. In cũng thế, tôi nghĩ in không có lỗi gì, cung cấp giấy phép in xuất bản, điều kiện gì chăng nữa “anh” được cấp giấy phép hoạt động in như một doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, việc quản lý nội dung in là việc quản lý nhà nước chứ không phải luật này.

Tôi đề nghị xem lại các quy định đối với Điều 31, 32 với cơ sở in. Luật này không thể điều chỉnh cơ sở in với tư cách là một doanh nghiệp in. Luật này điều chỉnh nội dung của các xuất bản phẩm và kiểm tra nội dung xuất bản phẩm theo hợp đồng của cơ sở in với các nhà xuất bản hoặc với cơ quan tổ chức nào đó. Tôi đề nghị nghiên cứu kỹ quy định này, nếu không sẽ làm hạn chế hoạt động sản xuất kinh doanh cơ sở in, trong khi đó cái cần là quản lý nội dung in. Còn việc in văn bản giả, các tài liệu khác như hồ sơ đất, giấy tờ đỏ... thuộc lĩnh vực khác chứ không thuộc Luật Xuất bản.

Một thủ tục nữa đó là biên tập viên phải có chứng chỉ hành nghề, thẻ biên tập viên mà lại do bộ cấp. Đề nghị nghiên cứu lại, phải chăng có sự nhầm lẫn giữa biên tập viên với tư cách là một viên chức, nếu nhà xuất bản là đơn vị sự nghiệp, biên tập viên là viên chức. Nếu là doanh nghiệp thì có thể là công nhân hoặc cán bộ trong một doanh nghiệp xuất bản thì không có thể hành nghề độc lập như luật sư hay nhà báo, bác sỹ. Cho nên thủ trưởng cơ quan thừa sức được quản lý biên tập viên và trong một quan hệ một đơn vị cơ quan, họ không có hoạt động ngoài cơ quan, có nghĩa là họ không phải cầm thẻ hành nghề. Chúng ta “đẻ” thêm một thủ tục mà lại Bộ trưởng cấp thì không cần thiết, họ chỉ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn về bằng cấp và được bổ nhiệm về quản lý nhà nước, bổ nhiệm về nghiệp vụ biên tập nếu thủ trưởng cơ quan đó sử dụng, chứ không cần thêm "phải". Quy định Điều 21 cần phải nghiên cứu thêm.

Về cấp giấy phép xuất bản các loại xuất bản phẩm mà không vì mục đích kinh doanh như lịch sử Đảng hay tài liệu tuyên truyền địa phương. Thực tế ở địa phương các loại tài liệu đang quản lý rất chặt. Do vậy, tôi đề nghị ở Điều 24 thẩm quyền xem xét để cấp giấy phép in các tài liệu này nên giao cho Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông, không cần thiết phải là UBND tỉnh, vì thực tế UBND tỉnh cũng không làm được.

Hiện nay khâu phát hành yếu nhất là phát hành ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, bởi vì hầu như các cơ sở phát hành là kinh doanh, có lợi mới phát hành. Cho nên, tôi đề nghị ngay trong luật này phải quy định một điều là trách nhiệm nhà nước phải có những tổ chức phát hành phi lợi nhuận chuyên thực hiện nhiệm vụ phát hành các tài liệu tuyên truyền của Đảng, của Nhà nước, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo.
 
ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Hà (Hà Nội): Không nhất thiết chỉ có mô hình nhà xuất bản là đơn vị sự nghiệp công lập
 
Về mô hình tổ chức và đối tượng thành lập nhà xuất bản, theo tôi không nhất thiết chỉ có mô hình nhà xuất bản là đơn vị sự nghiệp công lập mà nên phân loại nhà xuất bản theo chức năng, nhiệm vụ; theo tôn chỉ, mục đích để áp dụng mô hình phù hợp; nên mạnh dạn xã hội hóa mô hình này để thu hút nguồn lực xã hội để đầu tư cho cơ sở vật chất, nguồn vốn, kể cả nguồn bản thảo cho nhà xuất bản. Chỉ những nhà xuất bản chuyên xuất bản sách lý luận, chính trị, pháp luật, thông tin đối ngoại... thì mới thuộc đơn vị sự nghiệp công lập.

Hiện nay nhu cầu đọc sách điện tử ngày càng phổ biến. Theo số liệu tại Thư viện Quốc gia, trung bình một ngày có 6.500 lượt người truy cập sách điện tử và có 2.000 lượt người có nhu cầu đọc truyền thống. Có thể nói sách điện tử là đối tượng quan trọng của ngành xuất bản trong tương lai. Do đó, luật cần quy định rõ ràng, cụ thể về sách điện tử, xuất bản phẩm điện tử; xuất bản, xuất bản phẩm điện tử. Ngoài ra, cần quy định về quảng cáo, bản quyền đối với xuất bản phẩm điện tử và bổ sung chế tài xử lý vi phạm về xuất bản phẩm điện tử.

Chương III có tiêu đề là "Tổ chức và hoạt động lĩnh vực in xuất bản phẩm" cũng phù hợp với phạm vi điều chỉnh nêu tại Điều 1 là "Luật xuất bản chỉ điều chỉnh hoạt động xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm". Tuy nhiên, ở Khoản 2 Điều 31 quy định: Việc thành lập cơ sở in khác phải đảm bảo các điều kiện quy định tại Khoản 1 điều này và phải đăng ký hoạt động in với UBND cấp tỉnh. Vậy, các cơ sở in khác có phải là cơ sở in bao bì, nhãn mác, quảng cáo thương mại hay không? Về việc đưa quy định đối với các cơ sở in không phải là in xuất bản phẩm vào một khoản trong điều này là không nhất quán với phạm vi điều chỉnh ở Điều 1, gây khó khăn cho công dân, cho tổ chức khi tìm hiểu, tra cứu các quy định của luật. Theo tôi cần có quy định riêng đối với các cơ sở in không tham gia hoạt động in xuất bản phẩm. Việc quy định cơ sở in phải gửi hồ sơ đề nghị cấp phép hoạt động in xuất bản phẩm đến Bộ Thông tin và Truyền thông như tại Điều 32 sẽ gây khó khăn cho các cơ sở in không hoạt động trên địa bàn Hà Nội; không phù hợp với tinh thần phân cấp quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và chưa tạo điều kiện cho công dân, tổ chức, chưa tạo điều kiện nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý các cấp. Ngoài ra cần bổ sung quy định cơ sở in phải bảo đảm các điều kiện về bảo vệ môi trường.

Khoản 1, Điều 42 quy định một số trường hợp nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam không phải cấp phép nhập khẩu mà chỉ làm thủ tục hải quan như xuất bản phẩm là tài sản di chuyển của tổ chức, gia đình, cá nhân để sử dụng riêng; xuất bản phẩm thuộc tiêu chuẩn hành lý mang theo người của người nhập cảnh được sử dụng cho nhu cầu cá nhân; xuất bản phẩm tặng cho tổ chức, cá nhân gửi qua bưu điện có giá trị không lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế... là một bất cập dễ gây lọt những xuất bản phẩm có nội dung xấu, vi phạm pháp luật của Việt Nam. Bởi chỉ có thực hiện, cấp phép nhập khẩu xuất bản phẩm mới có thể thẩm định được nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu. Khoản 2, Điều 42 quy định trường hợp chuyển giao cho tổ chức cá nhân khác của Việt Nam thì cá nhân tổ chức tiếp nhận phải làm thủ tục nhập khẩu là không khả thi. Cơ quan quản lý không thể kiểm soát được và có thể ảnh hưởng không tốt cho xã hội nếu để lọt những ấn phẩm có nội dung xấu. Khoản 4, Điều 42 quy định xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Điều 10 của luật này không được nhập khẩu vào Việt Nam, tuy nhiên với các trường hợp đã không phải cấp phép nhập khẩu nêu ở phần trên thì cũng sẽ không kiểm soát được nội dung này. 

Minh Vân lược ghi
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
09:59 01/08/2014
Mô hình trường học mới tại Việt Nam được triển khai thực nghiệm trong một thời gian ngắn, nhưng theo THỨ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUYỄN VINH HIỂN, mô hình đang giúp từng bước khắc phục những nhược điểm của giáo dục phổ thông. Mô hình này đi vào đổi mới các hoạt động sư phạm một cách hệ thống và đồng bộ; tạo cho học sinh chủ động học tập, thường xuyên rèn luyện phương pháp tự học và lấy học sinh làm trung tâm trong hoạt động dạy học...Đây chính là tiền đề cho việc xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang