[Ga: een map omhoog, voorpagina]

SáCh MớI CủA ĐBT SắP Ra MắT, VớI MộT BuổI GiớI ThiệU Nhỏ TạI Số 4 Lý Nam Đế

TRUYỆN CỦA ĐỖ BÍCH THÚY Sách mới của ĐBT sắp ra mắt, với một buổi giới thiệu nhỏ tại số 4 Lý Nam Đế">Trackbacks (0) Sách mới của ĐBT sắp ra mắt, với một buổi giới thiệu nhỏ tại số 4 Lý Nam Đế">góp ý (8)   

Thành Chương vẽ tranh minh họa sách Đỗ Bích Thúy

12 bức tranh được họa sĩ Thành Chương hoàn thành trong vòng hai đêm, minh họa cho tất cả truyện ngắn trong tập sách mới của Đỗ Bích Thúy.

Nhà văn Đỗ Bích Thúy chuẩn bị ra mắt tập truyện ngắn “Đàn bà đẹp”, tập hợp các sáng tác mới nhất của chị. Hay tin, họa sĩ Thành Chương đã quyết định vẽ tặng tác giả “Đàn bà đẹp” một bộ minh họa tất cả truyện ngắn trong cuốn sách.

MH6-1370939985_500x0.jpg
Một trong số các tác phẩm của Thành Chương.

Đáp lại thịnh tình của họa sĩ chịu chơi, đơn vị phát hành tập sách quyết định sẽ in 12 bức tranh nói trên bằng phụ bản màu. Thành Chương cho biết, lúc đầu ông chỉ định vẽ dăm bảy bức minh họa cho một số truyện, nhưng khi đọc xong bản thảo, họa sĩ đã quyết định vẽ toàn bộ với hai đêm thức trắng. Điều này khiến Đỗ Bích Thúy rất cảm kích.

“Anh Thành Chương đã vẽ minh họa cho một số truyện ngắn của tôi in rải rác trên các báo, và tôi thực sự thích cách minh họa của anh ấy. Tranh minh họa của Thành Chương có một đặc điểm là vừa minh họa được truyện lại hoàn toàn có thể đứng độc lập với tác phẩm văn học, có thể đóng khung và trưng bày trên tường”, Đỗ Bích Thúy chia sẻ.

Cùng với tập truyện ngắn “Đàn bà đẹp”, Đỗ Bích Thúy cũng sẽ ra mắt tập tản văn “Đến độ hoa vàng” gồm các sáng tác chị viết gần đây. Buổi ra mắt dự kiến diễn ra vào 15h, thứ bảy, ngày 15/6 tại hội trường Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội. Trong lễ ra mắt sẽ có phần trình diễn văn xuôi trích từ hai tập sách của Đỗ Bích Thúy. Truyện ngắn “Con dê bốn mắt” và tản văn “Nơi về” là hai tác phẩm được lựa chọn trình diễn, với sự tham gia của các nghệ sĩ đến từ Nhà hát Tuổi Trẻ, Nhà hát chèo Quân đội.

Các nghệ sĩ Nhà hát Tuổi trẻ luyện tập trình diễn tác phẩm của Đỗ Bích Thúy.
Các nghệ sĩ Nhà hát Tuổi trẻ luyện tập trình diễn tác phẩm của Đỗ Bích Thúy.

Đỗ Bích Thúy là nhà văn trưởng thành từ vùng cao nguyên đá Hà Giang. Sở trường của chị là truyện ngắn, chị đã xuất bản sáu tập truyện, trong đó truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành phim truyện nhựa “Chuyện của Pao”.

Dương Tử (Nguồn: VnExpress)

MẸ KẾ

TRUYỆN CỦA ĐỖ BÍCH THÚY MẸ KẾ">Trackbacks (0) MẸ KẾ">góp ý (4)   

Truyện ngắn bạn Nguyễn Thanh Bình vừa dùng trên ĐĐK nhà bạn í. Treo ở đây, dành cho những người yêu miền núi, yêu vùng cao, yêu cao nguyên đá. Ai chưa đọc thì đọc, ai đọc rồi thì xem tranh của bác Chiem To Pham. Hôm viết xong cái truyện này mình ngồi thừ ra. Tự dưng thấy buồn đến chảy cả ruột. Sự thực là mình đã buồn đến chảy cả ruột. (May mà ruột không giống răng, giống tóc, nếu không chắc đã rơi đâu đó). Viết xong, hai người đọc đầu tiên là lão bạn già khú và con bé tóc xù dở hơi. Cả hai đều bảo: Đúng là mình nên viết về miền núi. Phải, miền núi là da thịt mình, là hơi thở mình, và bây giờ còn là giấc mơ mình.

 

MẸ KẾ


Bố tôi sắp lấy vợ.

Chuyện này cũng bình thường. Đàn ông ở Dìn Sán này, hễ vợ chết là lấy vợ mới luôn. Không có vợ thì lấy ai đi nương, ai xay ngô, ai đồ mèn mén, ai thức đêm nấu rượu cho mà uống. Đàn ông nào cũng chẹp miệng một cái, phả một hơi thuốc lào mù mịt, nói thế.

 
alt
Minh họa: Tô Chiêm
 
Bố tôi thì khác. Mẹ tôi mất đã ba mùa gieo ngô, thu ngô, những bắp ngô mùa thứ ba đã bắt đầu bị mọt ăn, ông mới nói tới chuyện lấy vợ.
 
Vợ mới người thôn Pao Mã Phìn, là y tá ở trạm xá xã. Y tá ở trạm xá xã chữa bệnh cho người thì ít, chữa cho trâu bò thì nhiều. Người ít ốm, trâu bò mùa đông thường hay lăn đùng ra giữa đêm. Hễ trâu bò lăn đùng ra người ta lại chạy đến trạm y tế, gọi y tá. Ban đầu y tá nói không biết chữa cho bò, chỉ biết chữa cho người thôi. Liền bị mắng: Người với bò thì khác gì nhau, đều ăn rau ăn cỏ. Ầy, nói thế biết thế. Không cãi.
 
Y tá xuống huyện, ôm về một đống sách. Trên sách toàn thấy tranh vẽ bò. Đọc hết đống sách vẽ bò, lại xuống huyện, vác về một thùng sắt bên trong đầy thuốc. Cả những ống tiêm to đùng.
 
Chữa được một con bò thì có con thứ hai, con thứ ba. Lâu lâu, người làng quen miệng gọi là y tá bò.
 
Bố tôi quen y tá cũng do một lần con bò mẹ nhà tôi đẻ. Chân con bê thò ra rồi nhưng cái thân vẫn mắc trong bụng, không sao ra được. Bố sai tôi chạy lên trạm xá xã gọi y tá. Y tá vừa chạy vừa lẩm bẩm: Đã đỡ đẻ cho bò bao giờ đâu cơ chứ. Biết làm thế nào đây? Làm thế nào đây hả?
 
Y tá chạy nhanh lắm.Tôi hổn hển chạy sau nhìn thấy hai cái chân nhỏ của y tá đi trong giày vải đạp trên cỏ ướt thoăn thoắt như chân thỏ.
 
Con bò mẹ đang kêu ò ò trong chuồng, bố tôi thì đứng nghệt bên cạnh, vỗ vỗ vào cái mông bò như thể bảo mày hãy cố lên bò. Tôi đứng nấp sau cánh cửa bếp, không dám nhìn ra chuồng bò. Chỉ nghe thấy tiếng cô y tá sai bố: lấy cái chậu, lấy cái dây thừng, lấy con dao, lấy cái đèn dầu... chả biết lấy những thứ đấy làm gì. Một hồi lâu thì tiếng bố tôi reo lên: Ra rồi. Uây, ra rồi. Xong rồi.
 
Y tá còn qua lại vài lần để xem con bò mẹ, con bê con thế nào. Lần nào cũng mang cho con bò mẹ vài bắp ngô tươi. Bố tôi cũng lên lên, xuống xuống trạm xá xã vài lần để lấy thuốc về tự tiêm phòng tụ huyết trùng cho bò.
 
Một tối, ăn cơm xong, đi một vòng kiểm tra chuồng bò, chuồng dê xong, bố bảo:
 
- Xây à, bố lấy vợ nhé!
 
Tôi đánh rơi con dao đang bóc sắn vào giữa đống vỏ sắn, cúi tìm mãi không thấy. Tôi đã đợi bố nói ra câu này từ ba năm trước, khi mẹ vừa bỏ tôi mà đi. Đợi mãi không thấy bố nói, tôi nghĩ chắc bố không cần lấy vợ nữa. Không có vợ trong nhà vẫn có mèn mén, vẫn có rượu uống, vẫn có cám cho lợn, thậm chí con bò cũng vẫn đẻ như thường. Những việc của đàn bà, bố làm được hết. Những việc bố không làm thì tôi làm.
 
- Đừng tìm dao nữa. Nó ở trong ấy thôi. Lấy con khác mà làm.
 
Tôi quên mất là mình vẫn đang vục tay trong đống vỏ sắn dưới chân, mặt vẫn cắm giữa hai đầu gối. Quên mất là bố vừa nói gì.
 
- Bố lấy vợ được không?
 
Bố hỏi, giọng buồn như cái lá rớt xuống từ lưng chừng trời không biết bay về đâu. Tôi đứng dậy, lấy đèn pin, bước ra ngoài.
 
Tôi sang nhà bà ngoại. Bà ngoại đang vá chài bắt cá bên bếp. Ánh lửa lấp lánh nhảy trong hai con mắt già nua.
 
- Không có việc gì làm hay sao mà đi chơi giờ này hử?
 
- Bảo có thì có, bảo không có thì không có thôi mà bà. Tôi cố cười, cầm cái cặp khều khều ngọn lửa đang cháy bùng bùng, bên trên là nồi cám lục bục sôi.
 
- Có chuyện gì thế?
 
- Không có gì đâu bà.
 
Bất giác tôi nhìn về phía căn buồng bên trái. Khi xưa, lúc chưa lấy bố, mẹ tôi ở trong căn buồng ấy. Cửa buồng che bằng mảnh vải hoa cúc nền đỏ, bên trên có tua bằng len. Khi mẹ tôi mất, ngày nào tôi cũng chạy về bà ngoại. Nhìn bà ngoại như nhìn thấy mẹ, chỉ là mẹ già hơn mà thôi. Bà ngoại thì nói, nhìn thấy tôi như nhìn thấy con gái, chỉ là con gái non hơn mà thôi.
 
Đêm, tôi ngủ với bà. Muộn lắm, đã tắt hết đèn thì bố tôi tới. Tôi nằm trong buồng với bà, nghe tiếng chân con chó chạy lách cách trên sân lát đá, biết là nó đang quẫy đuôi vì nhận ra người quen. Bố đứng ngoài cửa, nói với vào:
 
- Ngủ với bà, nhớ sáng mai dậy sớm đi học nhá!
 
Nói xong, bố quay lưng đi. Tiếng hai cánh cổng khép lại ken két. Ánh đèn pin loang loáng xa dần.
 
Bà ngoại vòng tay ôm lưng, sờ sờ mấy cái đốt xương gồ lên dưới áo. Bà ngoại vuốt tóc, ngửi tóc tôi. Nửa đêm về sáng, bà khóc, tôi khóc. Bà nhớ con gái bà, tôi nhớ mẹ tôi. Khi bà cho mẹ tôi đi lấy chồng, mẹ tôi cao hơn tôi bây giờ nửa cái đầu. Chỉ cao hơn thôi, chứ giống như hai cái lưỡi quà * cùng đúc một khuôn. Bà bảo thế.
 
Trước khi tôi ngủ thiếp đi còn nghe thấy bà nói: Ầy, bò đực thì phải có bò cái, không có bò cái thì hỏng bò đực mất. Nói xong, bà thở dài.
 
Rồi y tá về nhà tôi thật. Ngày y tá về, tôi không ở nhà. Cũng không ở nhà bà ngoại. Tôi sợ nhìn thấy bà ngoại lưng còng ngồi nhặt hạt đỗ ở góc sân, con chó nằm khoanh bên cạnh, mắt chó buồn, tiếng người hát cũng buồn: "Người không mẹ như tôi, mùa đông đến ăn cơm như ăn miếng cám, mặc quần mặc áo thì mặc miếng rách. Còn người có mẹ như cô em, ăn cơm thì ăn miếng trắng, mặc quần mặc áo thì mặc cái đẹp”.
 
Bà đang hát cho tôi, hát cho bà. Bà thương tôi, bà sợ mẹ kế đẩy tôi ra đường, bà thì già, rồi bà chết, lấy ai lo cho tôi.
 
Tôi cũng nghĩ thế. Bà già, bà chết thì lấy ai cho tôi chạy về ngủ một đêm, ngủ hai đêm, ngủ ba đêm?
 
Tôi ngồi ở đỉnh dốc. Nơi ngày xưa tôi hay ngồi chờ mẹ đi chợ về. Tôi nhận ra cái ô của mẹ ở rất xa. Mẹ mặc váy áo đẹp, buổi sáng dắt hai con dê đi, buổi chiều về đầy một lưng ngựa thồ. Trời tối dần, đến lúc gần không nhận ra mặt người thì mẹ và ngựa lên tới đỉnh dốc, ngựa đầy mồ hôi, người cũng đầy mồ hôi.
 
Cũng một phiên chợ như vậy, tôi ngồi chờ ở đỉnh dốc tới tối mịt, tới lúc chỉ còn nhìn thấy những viên đá xếp bên đường nhờ nhờ trắng, vẫn không thấy mẹ về. Và mẹ chỉ về khi không còn nói được nữa, mẹ mang theo cả đứa em trai sắp chào đời. Con ngựa thồ bị trượt chân trên mép vực, mẹ đã nắm cái đuôi nó, cố giữ nó lại. Làm sao mẹ có thể giữ được một con ngựa với một cái lưng đầy hàng đang trượt xuống vực sâu chứ? Con ngựa kéo cả mẹ rơi xuống, mẹ mắc vào một cái cây chìa ra bên mép vực...
 
Tôi không ăn cơm với mẹ kế. Đợi bố với mẹ kế ăn xong tôi mới ăn. Một bữa, hai bữa, mẹ kế cũng không ăn cơm. Cơm nấu xong, cứ để nguyên đấy. Bố tôi cũng không ăn nốt. Bà ngoại sang, nhìn ba người ngồi ba góc, nồi cơm đầy nguyên, bà khóc:
 
- Nếu biết mình chết đi mà làm người sống khổ thế này thì chắc nó không muốn chết đâu.
 
Mẹ kế chạy đến ôm lưng bà ngoại, vùi mặt vào lưng bà ngoại, vai rung lên.
 
Đêm, tôi không ngủ, tôi ngồi canh bếp. Tôi thổi cho lửa trong lò cháy thật to. Tôi gõ cái đũa đảo cám vào miệng chảo cành cạch. Tôi băm ngọn bí suốt đêm. Dao bập phầm phập xuống thớt. Băm đi băm lại, ngọn bí, lá bí nát nhừ. Lợn đang ngủ tôi khua dậy, tôi bắt phải ăn cám. Ăn hết để tôi còn lấy chảo nấu tiếp. Vừa băm dây bí tôi vừa lắng nghe tiếng thở dài của bố trên căn gác dành cho khách. Trong buồng của bố mẹ có tiếng khóc, tiếng khóc rất nhỏ, như nước chảy, như tiếng con chó con nhớ mẹ. Chó con nhớ mẹ thì cũng mặc kệ. Tôi cứ ngồi cạnh bếp. Ai muốn đi từ gác xuống, đi vào buồng, đều phải đi qua trước mặt tôi, đi qua cái thớt mà tôi đang băm dây bí phầm phập.
 
Sáng sớm, đến con chó còn đang ngủ vùi trong đống ngô khô, cả bố tôi, cả mẹ kế đều đã dậy. Họ có nhìn mặt tôi hay không tôi không biết, nhưng tôi thì không nhìn mặt họ. Họ mất ngủ, họ mệt, tôi cũng mất ngủ, tôi còn mệt hơn, vì tôi phải băm bí suốt đêm, nấu cám suốt đêm.
 
Tôi đeo túi vải đi học. Con chó lũn cũn chạy theo. Tôi đuổi:
 
- Về đi chó. Mày phải ở nhà trông cho tao chứ.
 
Nhưng con chó vẫn lũn cũn chạy theo. Ngày nào tôi đi học mà nó chả chạy theo. Tôi cúi xuống nhặt một hòn đá, ném con chó, vừa ném vừa đuổi. Nó chạy ngược một đoạn, lát sau, khi tôi vừa qua khúc ngoặt đã lại thấy nó thập thò ngay phía sau. Tôi thương con chó lắm. Nó giống tôi, nó sợ mẹ kế lấy mất chỗ của mẹ tôi trong nhà.
 
Ngồi trong lớp tôi không học được, chữ chạy hết bên ngoài tai. Tôi nghĩ, tôi không thể đêm nào cũng ngồi băm bí. Mà tôi băm bí được ban đêm chứ không băm được ban ngày. Ban ngày tôi đi học, cái cánh cửa buồng lại mở ra đóng vào thì làm sao? Tôi đứng vụt dậy, đi ra khỏi lớp. Cô giáo gọi cũng không buồn trả lời. Tôi chạy về nhà, con chó chạy sau, cả người cả chó đều thở hồng hộc. Tôi xô cánh cổng, xô cửa, đứng ở gian giữa, hai đầu gối đập vào nhau bần bật. Tôi nhìn chằm chằm vào cái cánh cửa buồng đang đóng. Tôi ẩy lưng con chó. Ý tôi muốn bảo nó đẩy cánh cửa ra. Nhưng con chó lại không hiểu ý, chạy vọt ra ngoài. Tôi đứng trước cánh cửa, nửa muốn đẩy ra thật mạnh, nửa sợ hãi phải chứng kiến cái thứ mà mình đang nghĩ tới. Cánh cửa vẫn đóng im ỉm, trong nhà ngoài nhà đều im thin thít, trừ tiếng gà đang cục tác ngoài sân.
 
Tôi đứng đó rất lâu. Cánh cửa gỗ nặng nề vẫn khép chặt.
 
Tôi nghĩ, nếu tôi có một đứa em thì sao? Nếu nó là em trai, chắc chắn bố tôi vui lắm. Ông nội tôi chỉ có hai con trai, bác tôi đã mất, để lại toàn con gái. Bố mẹ tôi mới chỉ có mình tôi thì mẹ tôi mất.
 
Nếu nó là em gái. Một đứa em gái da trắng như da mẹ kế. Má hồng như má mẹ kế. Răng trắng như răng mẹ kế. Eo nhỏ xíu như eo mẹ kế... Tiếng hát buồn bã của bà ngoại lại văng vẳng bên tai: "Người không mẹ như tôi, mùa đông đến ăn cơm như ăn miếng cám, mặc quần mặc áo thì mặc miếng rách. Còn người có mẹ như cô em, ăn cơm thì ăn miếng trắng, mặc quần mặc áo thì  mặc cái đẹp”.
 
Tôi ngủ gục bên cánh cửa lúc nào không biết. Tôi đã băm bí suốt đêm, tôi buồn ngủ lắm, chỉ có tôi là không biết điều ấy.
 
Tôi tỉnh dậy vì có tiếng chân người chạy tới, tiếng chó sủa.
 
- Y tá ơi! Y tá đâu rồi? Con lợn nhà tao tự dưng lăn đùng ra, sùi bọt mép. Nó sắp chết rồi. Y tá đâu hả?
 
Người vừa gọi là một bà già, bà chạy xộc vào nhà. Tôi đưa tay chỉ vào cánh cửa. Bà già chạy tới, đẩy toang cánh cửa ra:
 
- Giờ này mà còn ngủ hả y tá kia?
 
Bà già dụi mắt, nhìn quanh căn buồng tối om. Làm gì có ai. Hả? Làm gì có ai!  Vừa nói bà vừa nhảy qua bậu cửa ra sân.
 
Tôi đi ra sân. Trời hửng nắng. Giữa đông mà trời hửng nắng. Những bông lê trắng muốt vừa bật ra trên cành đang hứng lấy nắng. Cả con chó cũng nằm phơi bụng trên sân, thấy tôi, nó chỉ phe phẩy cái đuôi.
 
Tôi thấy như vừa trút được một gánh đá trên vai. Tôi đã ngủ gật ở cửa buồng. Thực ra không cần phải ngủ ở đấy.
 
Tôi ra chỗ những cây ngô khô chất thành một đống ở góc sân, dúi đầu vào đấy, ngủ tiếp.
 
Đêm, tôi lại thức băm bí. Hai đêm, ba đêm, năm đêm, tôi vẫn thức băm bí. Ban ngày ngủ gục trong đống cây ngô khô. Ngày mười mấy, hai mấy, không nhớ nữa, tôi bị con chó cắn gấu áo lôi dậy lúc trời đã tối mịt. Bố tôi đi ra sông đánh cá từ đêm hôm trước vẫn chưa về. Trong nhà, tiếng dao băm vào thớt kí cách vọng ra. Tôi đi vào nhà. Trước bếp lò, mẹ kế tôi đang băm bí. Bí đã hết, mẹ kế vẫn băm kí cách vào thớt. Những ngón tay hàng ngày tiêm cho bò, đỡ đẻ cho bò, gầy gò, đầy gân xanh, dính đầy vụn lá bí. Tôi muốn nói: Dù bây giờ mẹ kế có băm bí tối tôi vẫn băm tiếp. Tôi mặc kệ tiếng khóc như tiếng chó con nhớ mẹ, tôi mặc kệ tiếng thở dài như một chiếc lá lau. Tôi sẽ vẫn tiếp tục băm bí.
 
Có tiếng chân người huỳnh huỵch chạy tới.
 
- Xây ơi, Xây à! Ra sông mà xem bố mày...
 
Không kịp nghe hết, tôi chạy bổ ra cổng. Hai cánh cổng ken két đập vào nhau sau lưng. Tôi chạy, con chó chạy, mẹ kế chạy, theo hướng người làng đang rầm rập như đuổi thú dữ ra phía sông. Ánh đèn pin loang loáng.
 
Bố tôi quăng chài, chài mắc vào đá ngầm, ông lặn xuống gỡ, mãi không thấy lên. Người làng nói thế. Tôi chưa kịp nhìn rõ mặt nước dưới ánh đèn pin thì đã nghe bùm một tiếng. Ai đó gọi: Y tá! Y tá! Không tìm được đâu. Đừng xuống. Nước chảy xiết lắm, lạnh lắm!
 
Hai ba người nữa nhảy xuống theo, vừa để tìm bố tôi vừa để vớt y tá, tức mẹ kế tôi.
 
Sau một hồi vùng vẫy, họ lôi nhau lên. Tôi chạy đến, len qua đám đông, tôi thấy mẹ kế tôi áo váy ướt sũng, đầu tóc ướt sũng, mặt trắng bệch. Mẹ kế run run nói:
 
- Không thấy bố ở đấy. Bố không ở đấy, Xây à.
 
Tôi gục đầu vào ngực mẹ kế. Nghe tiếng khóc như vọng về từ đâu đó rất xa, nơi đầu con dốc có mấy viên đá trắng người ta đục đá làm đường lăn xuống.
 
 


MỘT LOÀI HOA THƯƠNG NHỚ

VỀ NƠI CỰC BẮC MỘT LOÀI HOA THƯƠNG NHỚ">Trackbacks (0) MỘT LOÀI HOA THƯƠNG NHỚ">góp ý (2)   

Bài này được gợi ý từ một bức ảnh hoa mận trên tường nhà bạn Nguyễn Thanh Bình. Hồi ấy viết có một khúc. Tết này báo NNVN đặt một bài, đã viết kĩ thêm. Có những chi tiết mình rất thích, có những hình ảnh mình rất nhớ, có những câu nói rất dễ thương (với mình). Vừa nhận được báo. Bao giờ nhận được báo, có bài của mình, mình cũng ngồi cặm cụi đọc lại. Rất buồn cười là khi nào nhận được báo mình cũng không thể bỏ qua một động tác là ngồi xuống bàn, giở báo ra, và cặm cụi đọc lại không sót môt dấu chấm nào, chính cái bài mà mình đã viết rất cẩn thận trước đó.

Có bài này, phải cảm ơn bạn Bình lần nữa.

 alt

 Xuân về, đôi khi lại gặp ở đâu đó hình ảnh một cành hoa mận.

 Hoa mận có một vẻ đẹp tinh khiết đến kì lạ và gần như không thể diễn tả được.

 Ở miền núi, mận là một thứ cây hiền lành vô cùng, khiêm nhường và giản dị vô cùng. Nếu gia chủ nào chú ý thì nó sẽ được trồng ở một chỗ đất màu mỡ một chút, ẩm ướt một chút, thoáng đãng một chút, gia chủ không để ý, thì hạt mận do bọn trẻ con nhè ra, rơi xuống đâu sẽ tự mọc lên ở đó. Cho đến khi nó cao ngang đầu gối thì gia chủ mới thốt lên: Ồ, một cây mận này. Nó mọc lên ở đây từ bao giờ thế không biết. Và mận cứ thế lớn lên. Khi nó đã cao một chút, thì có thể mỗi ngày sẽ có thêm cái dây xích con chó buộc dưới gốc. Tiện cho chó nằm canh cổng. Lớn lên chút nữa, đứa con trai nhỏ sẽ tìm một cành có chạc ba, làm súng cao su. Lớn lên tí nữa, sẽ có một cặp chim sẻ tha rác về làm một cái tổ nhỏ xíu tít trên ngọn. Nhưng nói chung, mận như người đàn bà, lặng lẽ cống hiến và nhẫn nhịn chịu đựng.

Mùa xuân, nhà nhà thi nhau chặt cành đào mang vào nhà cắm chơi mấy ngày tết. Riêng cây mận cứ đứng đó, trong cái gió lạnh buốt từ thung lũng thổi ra, từ dưới sông thốc lên, lá già rụng hết, trơ toàn cành là cành, gầy guộc vô cùng. Rồi một sáng kia, nó bỗng bừng nở, hàng ngàn bông hoa xòe cánh trắng, hàng ngàn búp xanh nõn nà nhú ra khỏi cành, cho đến tận lúc ấy, người ta vẫn chẳng nhận ra. Đàn ông đàn bà, thanh niên, trẻ con, đi dưới tán mận, đi qua gốc mận, cánh hoa mận rụng xuống đầu, đều không hề đoái hoài.

Tết đến, hàng chục năm nay, không năm nào tôi không mơ ước có một cành mận đầy hoa trắng, với lá non xanh mướt đầu cành. Thế mà tuyệt nhiên ở Hà Nội người ta không chơi hoa mận. Có tìm mỏi mắt cũng không thể kiếm được một cành mận đầy hoa, đầy lá non. Nhớ tết năm nào, tôi đã từng viết cho một người bạn một bài tết, bài ấy có tên “Chiếc vòng bạc có hình hoa cúc”. Khi viết, tôi nhớ cây mận nhà mình. Nó nằm tít cuối vườn, sát với bờ rào bằng cây dứa. Xuân đến nó ra hoa, hoa trắng ơi là trắng, lá thì xanh vô cùng. Dưới gốc, những cái lá cỏ ướt đẫm sương, lạnh ơi là lạnh. Đúng là tôi luôn nhớ đến nó. Mỗi khi nhìn thấy hoa đào nở ở phố, tôi lại nhớ nó. Nhớ nhất lúc nó ra hoa, vì mùa mận chín thì chẳng mấy khi tôi có mặt ở nhà. Quả mận có loại rất ngon, rất giòn. Có loại khi chín thì đỏ bầm như màu rượu vang, thường gọi là mận máu. Có loại khi chín vẫn xanh mướt, ăn giòn tan, vị ngọt mà thanh. Cũng có loại như cây dại, quả không thể ăn được, vừa đắng, vừa chua. Nhưng dù quả khác nhau nhưng hoa lại rất giống nhau. Trắng đến nhức cả mắt, trắng đến quá cả mức trắng. Và những cái mầm lá thì xanh vô cùng. 

Lại nói cây mận nằm ở cuối vườn.

Khi một cây cam – thứ cây kinh tế nhất trong vườn nhà – bị sâu bệnh chết đi – bố tôi trồng thế vào chỗ đó một cây mận. Vì nếu trồng lại cam, mầm bệnh dưới đất vẫn còn, cây cam non sẽ lại mắc bệnh. Nên cây mận có chỗ đặt chân vào. Với người làm vườn có nghề thì một trong những nguyên tắc bất di bất dịch là phải để khoảng trống cho cây nó “thở”. Và phải biết chọn lựa bỏ cây nào, để cây nào, chứ không thể chỉ có bằng ấy đất vườn mà hễ cây gì mọc lên cũng để cho nó mọc. Bố tôi nói, cây cũng như người, chen chúc nhau mà sống thì phải đấu tranh, trong đấu tranh phải có mất mát, thiệt thòi. Nên tốt nhất là không nên để cây phải đấu tranh mà sống. Giữa các cây phải có chỗ cho ánh nắng rọi xuống cỏ, có chỗ cho mưa rơi xuống nền đất.

Thế là cây mận có một chỗ. Cây mận hồi đó chưa được lai tạo nên không phải là một thứ cây kinh tế, chỉ là cây dành cho trẻ nhỏ. Tức là nếu có ra quả, cũng chỉ phục vụ cho trẻ nhỏ, không mang lại một đồng nào cho người làm vườn. Và người làm vườn nào cũng có những cây như vậy – cây dành cho trẻ nhỏ.

Tôi nhớ mùa đầu tiên nó ra hoa. Tán của nó đã cao hơn đầu tôi, cao hơn cả anh trai tôi. Chắc phải ba – bốn năm gì đấy sau khi được trồng xuống từ một cái cây nhỏ xíu. Một buổi sáng, áp tết, trời buốt như có hàng trăm mũi kim xuyên qua da. Anh tôi vác dao quắm đi một vòng quanh vườn để dọn sạch những cành cây dại mọc từ ngoài rừng vắt vào vào trong vườn nhà. Chỉ riêng việc chặt những cành cây dại, dây leo từ ngoài bìa rừng vắt vào vườn cũng phải mất cả ngày trời. Bất chợt, tôi nghe anh gọi thảng thốt. Tôi chạy ra, và thấy anh đang đứng sững trước cây mận. Ô kìa, trên những cái cành đang trổ đầy lộc non, những bông hoa nhỏ xíu đang nở ra, như nụ cười của một cô bé xinh xẻo. Cây mận này, anh em chúng tôi yêu nó biết mấy. Vì nó chính là một cái dây dành cho trẻ nhỏ. Người lớn có thể không bận tâm vì nó chẳng mang lại lợi lộc kinh tế gì, nhưng trẻ con thì thật sung sướng. Tôi biết, sáng nào khi vừa trở dậy, chưa kịp rửa mặt, anh tôi đã mắt nhắm mắt mở phi ra vườn. Vườn còn ướt đẫm sương đêm. Người chạy trước, chó chạy sau, tiếng chân người lịch bịch, tiếng móng chân chó gõ trên đá lát sân lách cách. Anh tôi chạy ra cây mận, để làm mỗi một việc: Tè vào gốc mận. Anh bảo, tè vào đấy cho nó chóng lớn. Còn nói thêm, em cũng phải chạy ra đấy mà tè, nhớ chưa.

Làm xong cái việc gọi là “cho cây mận chóng lớn” ấy, anh lại lịch bịch chạy về, chó cũng lạch cạch chạy về. Sương còn mờ mịt, đứng ở đầu sân bên này không nhìn thấy dây phơi đầu sân bên kia. Mặt ao còn mờ hơn nữa, như có một núi sương nặng trịch đang đè trên mặt nước.

Chiều, đi học về, vừa quăng cặp sách, anh lại chaỵ ra vườn. Vừa chạy vừa xách quần, miệng làu bàu: Nhịn mãi, đau cả bụng.

Cỏ dưới gốc mận lên xanh mướt. Bố tôi vừa đưa quà vào gốc, làm sạch vài hôm, lại lên xanh mướt.

Cây mận cũng lớn nhanh vùn vụt, mùa trước cao ngang vai tôi, mùa sau đã lên quá đầu anh tôi.

Lại nói anh tôi đứng thần ra dưới cây mận, bên trên những bông hoa đang rung rinh nở ra. Sương đêm vẫn chưa tan hết, còn đậu trên đầu cành như những hạt ngọc trong suốt. Đậu trên những cánh hoa tinh khiết, trên những chiếc lá vừa nhú xanh như chưa từng được xanh. Mùa đầu tiên cây mận bói được khoảng ba chục quả. Bố tôi bảo phải vặt hết quả ở vụ đầu tiên đi thì vụ sau cây mới có sức, nhưng anh tôi tiếc, chỉ vặt đi chừng một nửa những quả còi, xấu, còn thì giữ lại. Những quả mận xanh nõn, bên ngoài phủ một lớp phấn trắng. Ngày nào anh em tôi cũng đếm đi đếm lại, sợ nó rụng mất, sợ chim ăn mất, sâu đục mất. Thế mà cho đến lúc mận chín cũng chỉ còn mười một quả. Mười một quả mận ấy được chia đều cho năm người, tôi bé nhất được ba quả.

Anh tôi cầm hai quả mận được chia trong tay, lại bần thần ngồi dưới gốc mận nhìn lên tán lá. Như thể cảm thấy có lỗi vì đã bứt những quả mận ra khỏi cành. Con chó ngồi chồm hổm bên cạnh, đầu nó cao hơn đầu anh tôi. Anh tôi hỏi nó:

- Mày có ăn mận không hả chó?

Con chó hục hoặc cái đầu, mũi khịt khịt.

- Tao chia cho mày một quả nhá.

Anh xòe một bàn tay ra trước mặt con chó, trên đó có một quả mận. Con chó dí mũi hít hít mấy cái, quay mặt đi.

Anh tôi giữ hai quả mận mãi, cho đến khi không ăn được nữa. Lại đem hai cái hạt gieo xuống miếng đất cạnh bờ ao mẹ hay dành để trồng rau thơm.

Vừa gieo hạt mận xuống đất, anh tôi vừa bảo: Nếu mình chăm tốt, sang năm được mùa, mình sẽ bán đi. Anh sẽ lấy tiền đó mua một cái xăm xe đạp.

Số là anh tôi hàng ngày phải đạp xe đi học cách nhà mười cây số. Cái xe được bố sửa rất cẩn thận, nhưng vì cái xăm rách nát quá, không thể vá được nữa nên bố buộc phải nhồi hai cái lốp vào với nhau, thay cho việc dùng xăm. Đạp xe bằng lốp, không xăm, chắc là mệt lắm nên anh tôi mới ước thế.

Cây mận lớn nhanh hơn anh em chúng tôi rất nhiều. Mùa sau, sau nữa thì cái chạc ba ở lưng chừng thân cây đã đủ vững để anh tôi leo lên đó, đung đưa hai chân suốt buổi trưa và đọc một cuốn sách đã rách nát vì chúng tôi đọc đi đọc lại quá nhiều lần. Cuốn sách đó có tên “Chó hoang Đin gô hay là Câu chuyện mối tình đầu”. Cuốn sách của một nhà văn người Nga, dành cho thiếu nhi, với những bức minh họa rất đẹp.

Anh tôi vào đại học, cây mận đã thành một cây mận cổ thụ. Muốn hái quả phải dùng một cái sào dài bằng nứa. Đầu sào được chẻ ra, đan thành một cái giỏ, đặt cái giỏ ấy dưới chùm mận, xoay nhẹ một cái, mận sẽ rơi hết vào giỏ. Mùa mận chín anh không ở nhà, bố mẹ tôi hái mận rồi đem chia cho bọn trẻ trong làng. Tết anh về, việc đầu tiên vẫn là chạy ra gốc mận. Cho tôi ngồi lên vai anh và bảo hái cho anh một chùm hoa. Chùm hoa lạnh buốt như vừa ngâm trong nước đá. Anh bảo: Mận, mày vẫn nợ tao một cái xăm xe đạp.

Sau này bố mẹ tôi bán khu vườn. Trong bao nhiêu thứ phải từ bỏ, phải chia tay, thì thứ mà anh em tôi tiếc nhất, không thể mang theo, chính là cây mận. Khi đó, nó đã cao chắc phải gần bằng nóc nhà. Cái chạc ba khi xưa anh hay vắt vẻo trên đó để gặm nhấm cuốn sách long bìa rách gáy đã cao hơn tầm với.

Thật là, nhớ cây mận ấy biết mấy.

Đ.B.T

 

“Em BéO Và HộI CầU VồNg”

TRUYỆN CỦA ĐỖ BÍCH THÚY “Em Béo và hội Cầu Vồng”">Trackbacks (0) “Em Béo và hội Cầu Vồng”">góp ý (6)   

Bài nì in trên Hà Nội mới do em Giang gửi link cho mình. Bài viết ngắn, nhưng đã chạm đến một số vấn đề mấu chốt trong việc sáng tác văn học cho thiếu nhi.

 

Đỗ Bích Thúy ra mắt truyện thiếu nhi “Em Béo và hội Cầu Vồng”:
Liệu có nhiều nhà văn chuyên nghiệp viết cho thiếu nhi? 

Cuốn sách không dày, chỉ gần trăm trang gồm những mẩu chuyện nho nhỏ về hội Cầu Vồng gồm 6 bạn nhỏ lớp 2, trong đó có Em Béo, anh chàng duy nhất của hội. Vui có, buồn có, dở khóc dở cười cũng có, tác phẩm "nói" bằng tâm hồn và suy nghĩ của chính trẻ con này có thể gợi mở nhiều điều về sự khơi dậy của dòng văn học viết cho thiếu nhi hôm nay…

alt

Chuyện thì đúng là đều thân quen, như ở bao gia đình, bao đứa trẻ khác. Nào ước mơ làm công chúa, nghiện sôcôla, thích ăn gia vị mì tôm… Nào là "ganh" nhau thi ăn, thi đua xe đạp thậm chí thi cả… xì hơi. Nào ghét ngủ trưa, bức xúc với em bé… Tất cả được tái hiện qua giọng văn và lối kể chuyện dí dỏm rất đặc trưng của Đỗ Bích Thúy. Trong đó điều thú vị nhất là tác giả đã hóa thân hoàn toàn vào nhân vật của mình.

Làm một đứa trẻ, lại là người kể chuyện trong một tác phẩm văn học không dễ, như đi thăng bằng trên dây. Nghiêng quá sang bên nào cũng dễ… hỏng. Đọc "Em Béo và hội Cầu Vồng" cười... rách mép được vì nhân vật đúng là trẻ con với đầy đủ những nét đáng yêu lẫn chiêu trò… chả giống gì với suy nghĩ của người lớn. Cái chân thực, gần gũi ấy một thời đã thiếu vắng trong rất nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi và dưới sức nặng của các bài học giáo điều, nó càng trở nên khó chia sẻ với bạn đọc.

Ngoài khả năng hóa thân, "Em Béo và hội Cầu Vồng" cũng có một số thủ thuật để hấp dẫn bạn đọc nhỏ, đó là lời tựa như tiếng thì thào "… những câu chuyện tôi viết ở trong cuốn sách này, xin thề, hoàn toàn là sự thật. Các bạn có thể kiểm chứng bằng cách gọi điện tới số 224998999… Nhưng cũng đề nghị các bạn đọc rồi thì giữ kín giúp cho…". Tất nhiên, hóa thân vào nhân vật rồi, nhà văn cũng phải phân thân với tư cách tác giả. Đỗ Bích Thúy đã khéo léo cài cắm các "điệp viên - chuyên gia giáo dục" trong các mẫu chuyện như "Một ngày làm mẹ", "Em không thích nghỉ hè"… Trẻ con cứ cười hơ hơ, nhưng sau đó lòng biết gợn lên cảm xúc, thậm chí cay cay mắt, thế là thành công rồi.

Đỗ Bích Thúy từng chia sẻ chị viết tác phẩm này với cảm hứng từ chính những câu chuyện của hai cô con gái chị. Không lạ khi khởi nguồn của loạt truyện "Lão Kẹo Gôm" làm say mê bao bạn đọc nhỏ cũng vốn là những truyện kể của nhà văn người Anh - Andy Stanton dành cho đám trẻ trong gia đình anh. Mới đây "Nhật ký sẻ đồng: Chào em bé" cũng ra đời từ sự quan sát tinh tế của tác giả nhà văn Phong Điệp với các con của chị. Mừng là các nhà văn chuyên nghiệp ở ta đã quan tâm hơn tới mảng thiếu nhi với những góc nhìn thật gần gũi và cách thể hiện mới mẻ.

Tuy nhiên, từ một vài hiện tượng để rồi tạo thành "dòng" thì lại là chuyện khó. NXB cũng như tác giả vẫn trong tình trạng thăm dò. Tác phẩm ra một hoặc một vài tập đầu… rồi còn để xem đã. Ai chả thấy, mặt tiền của nhà sách luôn dành cho các "siêu phẩm truyện tranh" dài kỳ của nước ngoài. Để thành công như Nguyễn Nhật Ánh, thì ngoài tác phẩm hay ra, công sức lao động của tác giả để bạn đọc không thể quên mặt, quên tên được cũng phải rất ghê gớm. Chưa kể còn cần một sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ truyền thông.

Thế nên, đọc một cuốn truyện thiếu nhi hay, vừa cười sảng khoái xong đã lại thấy chạnh buồn!


Thi Thi

NHỚ NHỮNG MÙA CỐM

VỀ NƠI CỰC BẮC NHỚ NHỮNG MÙA CỐM">Trackbacks (0) NHỚ NHỮNG MÙA CỐM">góp ý (1)   

Từ hồi báo chí nhà ta đưa tin về việc pà con làng cốm Vòng trộn chất phụ gia độc hại vào cốm tới giờ, mỗi lần nhìn thấy hàng cốm là tôi lại vọt xe qua. Cả những thứ chế biến từ cốm như xôi cốm, chè cốm, bánh cốm cũng cai nốt. Lắm lúc nghĩ, cứ cái đà này, chả nhẽ lại cai hết. Lợn thì tai xanh nhảy vào ruốc, cá thì ao hồ ô nhiễm, gà thì cúm, bò thì điên… trong khi mình lại thuộc cái loại không biết ăn chay. Khổ thế chứ. Cho nên đôi khi cũng nhắm mắt làm ngơ, chỉ có cái gì thái quá thì đành cố cai vậy, trong đó có cốm. Thực ra, mình mình chén thì cũng chả sợ, từng này tuổi rồi, sắp đến cái đoạn ăn không biết ngon, mặc không cần đẹp nữa rồi, sợ gì chứ, nhưng khổ nỗi lại còn bọn trẻ. Mà chúng nó thì thích cốm vô cùng, mẹ không thể mang về nhà rồi chui ra ban công ăn một mình được.

 

alt

 

Mùa cốm tới, tức là khoảng thời gian đẹp nhất của Hà Nội đang tới. Sen trắng sen hồng đã ngập tràn, và trên từng góc phố, cốm đang được gói trong những tấm lá sen xanh nõn nà, với hai sợi rơm vừa héo buộc bên ngoài, lúc nào cũng chỉ chực bung ra để mùi hương dịu dàng đến độ có thể níu mọi bước chân của đám đàn bà con gái phả ra ngào ngạt.

 

Tôi  nhớ, rất nhớ những mùa cốm ở làng.

 

Làng tên làng Nùng, nhưng của người Tày. Người Tày, như ai cũng biết, luôn sống ở các thung lũng, gần sông, suối, trồng lúa nước, nuôi gia súc gia cầm, làm nhà sàn bằng những cây gỗ lâu năm. Nhà mình cũng ở trong một thung lũng nhỏ, nhưng không trồng lúa, chỉ trồng cây ăn quả, và mùa cốm nào cũng được người ta cho rất nhiều cốm, nhiều tới mức không ăn hết.

 

Mùa cốm, làng như mở hội. Nhà nhà đều đắp những cái lò bằng đất, cao chừng nửa mét, bên trên hở, bên dưới có cửa để cho củi vào. Lưng chừng có những thanh sắt lắp ngang để đặt những bông lúa nếp lên nướng. Lúa nếp để làm cốm phải là lúa bánh tẻ, thân rơm vẫn còn xanh, những hạt lúa vừa đủ căng mẩy, vừa cạn sữa, sợi râu ở đầu hạt vừa chuyển sang vàng sậm. Đàn ông thì đắp lò, đàn bà thì mang tang ra đồng, tang về những cum lúa nếp tròn xoe, nặng trĩu.

 

Ngay dưới chân cầu thang là một chiếc loỏng dài đến hai ba mét, lòng loỏng khoét như thuyền độc mộc, mỗi bên loỏng đủ chỗ cho 3-4 thanh niên nam nữ, mỗi người một chiếc chày dài, cùng giã.

 

Lúa nướng trong lò vừa chín tới, được đưa ngay vào loỏng, bọn gái trai sẽ chia làm hai nhịp, bên này nhấc chày lên thì bên kia đặt xuống. Giã cốm cũng phải có cách, mạnh tay quá thì cốm sẽ nát, vỏ dính chặt vào hạt, giã nhẹ tay quá thì không đủ làm bong vỏ ra. Tiếng chày giã cốm vang lên thậm thịch khắp làng. Bao giờ bên những chiếc loỏng cũng có một nửa gái một nửa trai. Mấy đứa gái vừa giã được một lúc thì mồ hôi đã rịn ra dưới những vầng trán trắng ngần, thấm vào mép khăn đen vấn đầu. Giã một hồi nữa thì má bắt đầu đỏ ửng. Đỏ một phần vì nóng, một phần vì mấy đứa trai đứng bên kia loỏng , tay nhấc chày, mắt lại nhìn chằm chằm vào mặt mình. Bọn thanh niên này giã mãi, giã mãi, đến lúc người già đứng canh loỏng phải hô lên “Thế được rồi”, mới dừng tay. Dừng tay uống một bát chè xanh, đợi mẻ thứ hai vừa đưa vào lò nướng, chốc giã tiếp. Giã mới quan trọng, ăn thì không cần. Mấy đứa trai thì ăn bằng mắt no rồi, mấy đứa gái bị ăn cũng no rồi.

 

Người già xúc chỗ cốm vừa giã ra một cái thúng lớn, chia thành từng mẻ nhỏ ra mẹt, xảy cho trấu bay ra hết, xảy xong lại sàng, vừa sàng vừa vo nhẹ, cốm sẽ rời ra từng hạt. Bụi thơm từ cốm sẽ bay lên dính vào khăn trên đầu người già, dính vào váy áo, lúc bấy giờ, gà mẹ mới dẫn đàn gà con từ đâu lục tục chạy về, nhặt nhạnh những vụn cốm rơi vãi trên sân lát đá.

 

Bọn trẻ con người Kinh chúng tôi, đi học về, thường đứng bên ngoài hàng rào quấn đầy những dây mùng tơi đang ra quả, nhón chân nhìn vào sân, nơi người có người phụ nữ mặc một chiếc váy dính đầy bụi cốm đang xảy từng mẻ cốm nặng trĩu trên một chiếc mẹt lớn. Cốm rất nặng, bay lên rồi rơi xuống mẹt, chỉ những vụn trấu rơi ra ngoài. Mùi thơm của cốm vừa giã bay qua hàng rào, làm bụng trẻ con sôi lên từng cơn.

 

Bố tôi là người tỉ mẩn, khéo tay, thời gian rảnh rỗi ông thường mang đồ nghề ra đầu hè, sửa một đống nồi niêu xoong chảo sứt quai cho mấy bà già trong làng. Có lúc xoong nồi bị sứt quai chất cả một đống lớn hàng vài chục cái dưới gốc cây hồng, chờ bố tôi sửa giúp. Trong bếp của người Tày bao giờ cũng có một hai cái cặp bếp làm từ cây tre già. Bếp thì nhỏ, lửa luôn cháy rất to, lúc nào cũng trùm kín cả xoong nồi, muốn mang nồi cơm xuống vần ở cạnh bếp hay bắc xoong canh ra ngoài, đều chỉ dùng một cái cặp ấy, cặp một bên tai nồi, dù nặng đến mấy cũng chỉ một tay, một cặp, nhấc cái nồi ấy ra khỏi bếp. Vì vậy mà nồi rất hay hỏng tai. Tối nay hỏng, sáng mai lại mang đến vứt ở gốc cây hồng nhà ông T. Lúc việc vườn tược rảnh rồi, bố tôi lại mang đồ nghề ra sửa cho bằng hết. Mùa cốm, người làng mới mang cốm đến biếu, gọi là biểu, nhưng trong lòng lại nghĩ trả công cho việc lắp cái tai mới cho xoong nồi. Cho nên, mùa nào nhà tôi cũng rất nhiều cốm là vì vậy.

 

Người ta mang đến cho, mỗi người một gói, gói trong lá dong riềng vừa cắt bên bờ suối về, bên ngoài cũng buộc bằng mấy sợi rơm qua lửa, từ chối không được. Từ chối là giận liền, giận thì không bao giờ nhờ sửa tai nồi nữa. Thế nên phải nhận. Ăn không hết thì đem phơi khô, cất vào chum, hôm nào trời mưa không đi làm được thì mấy anh em đem ra rang cho phồng lên, vàng ươm, giòn tan.

 

Nhưng dù được ăn cốm đến phát chán, lại vẫn cứ thèm. Đấy là thèm được nướng cốm trong lò, được giã cốm trong loỏng, được xảy cốm bằng một cái mẹt nhỏ của trẻ con, và được ăn những hạt cốm đầu tiên, cùng với đàn gà.

 

Giờ, những mùa cốm ấy ngày một xa, rất xa.

TÔI KHÔNG THÍCH ĂN RAU CẢI!

XẢ SÌ TRUÉT TÔI KHÔNG THÍCH ĂN RAU CẢI!">Trackbacks (0) TÔI KHÔNG THÍCH ĂN RAU CẢI!">góp ý (6)   

Từ cái hồi in téc nét ra đời tới giờ, quả cũng có nhờ được nhiều việc thật, mà cũng bị bực mình không ít.

 

Mình nhớ mãi lần đầu tiên có cái địa chỉ email, nhà mạng gửi cho cái thư đầu tiên, xúc động suýt khóc.

 

Sau này, lại còn biết chát chít nữa, nhưng vẫn có một số thuật ngữ không hiểu, nhớ, có thằng bạn chơi từ hồi 5-6 tuổi, rồi nhà nó chuyển về xuôi, không gặp suốt ba chục năm, đột nhiên tìm thấy nhau trên mạng. Một lần chat, nó bảo, này, tôi gửi cho bà cái WC nhé. Mình phát hoảng, nghĩ bụng, thằng này bố láo, WC nhà mày thì mang về cho vợ mày xem chứ tao xem làm gì. Ức quá, tắt rụp luôn. Mãi sau mới biết bọn trẻ con dùng WC để gọi việc bật webcam lên. Đúng là ngốc thật.

 

alt

Cái rau này gọi là rau cải thìa 

 

Rồi đến cái đoạn các bác, các chú đã nghỉ hưu đến cơ quan chơi, bảo bây giờ cơ quan buồn, ngày xưa ngày nào các bác các chú đến cơ quan cũng phải ngồi ở phòng khách uống nước chè, hút thuốc lào, chuyện tào lao tầm 1 tiếng đồng hồ mới lên phòng làm việc, giờ đứa nào biết phòng đứa ấy. Quả có đúng, thậm chí mình với thằng cha béo phòng bên cạnh có việc còn mở cửa sổ để chat cho nhanh, chứ điện thoại ngay trước mặt cũng không buồn nhấc lên nữa.

 

Nhiều việc mình giải quyết qua email, từ việc gửi bản thảo, nhận hợp đồng, trao đổi, tán gẫu, buôn dưa buôn cà, in téc nét đúng là giải quyết được nhiều việc.

 

Nhưng mình thấy một số bạn lại đang lợi dụng nó hơi thái quá.

 

Ví dụ, từ hồi mình chơi blog, rất nhiều bạn sinh viên đã liên lạc qua email để xin tài liệu, xin ý kiến v.v giúp các bạn í làm khóa luận tốt nghiệp. Hồi đầu mình cũng xúc động lắm lắm, mình là cái rơm cái rác thế mà các bạn í cũng chọn mấy thứ ba lăng nhăng mình viết để làm khóa luận, đầu tư bao nhiêu công sức, rồi còn thầy nọ cô kia hướng dẫn, nghe cứ choang choang. Mình nhiệt tình lắm, email lại, bảo: Cái gì gửi được qua email thì chị sẽ gửi, cái gì không gửi được thì qua chị, chị đưa cho mà mượn. Thế là các bạn í đến, phỏng vấn một buổi (có bạn kiếm được cả nhuận bút bán mình cho báo nữa), mượn một đống tài liệu (sách của mình cũng có, các loại sách khảo cứu về văn hóa Hà Giang cũng có), bảo, em mượn rồi hôm nào hoàn thiện sẽ mang tới tặng chị một bản em viết, đồng thời trả chị luôn. Xong rồi các bạn í mất hút con mẹ hàng lươn, thậm chí mình gọi điện thoại cũng không liên lạc được. Mình nghĩ, không biết cô giáo, thày giáo kiểu này thì dạy dỗ ai đây?

 

Sau mình rút kinh nghiệm, bạn nào đến, mình đưa tài liệu rồi bảo em đi phô tô đi rồi mang lại đây giả cho chị, vì chị chỉ còn một cuốn thôi.  Thế mà cũng có bạn đi phô tô xong, đi luôn. Choáng! Mà mình thì chỉ có số điện thoại và địa chỉ email của bạn í trong tay.

 

Bi giờ, thỉnh thoảng vẫn có bạn nhắn tin qua email, qua blog, qua FB, bảo em đang làm khóa luận về tác phẩm của chị, nhưng em chỉ có mỗi cuốn A, cuốn B, còn cuốn C, D,E vân vân thì em không có, chị giúp em với, tiện thể chị gửi cho em xin những bài bác X, bác Y viết về chị luôn. Nhắn mỗi thế, không giới thiệu bản thân, không trường lớp, không địa chỉ, mỗi cái nick ảo, mình thấy rất bùn cười. Chắc là các bạn í tưởng đang ban phước cho mình, rằng mình được các bạn í chọn là một điều may mắn lắm lắm rùi. Hu hu!

 

Vẫn chưa hết, mình lại còn hay nhận được câu hỏi phỏng vấn của các bạn nhà báo nữa. Mình cũng làm báo, mình cũng hay đi phỏng vấn người ta, nhưng chưa bao giờ mình chỉ gửi tõm một đống câu hỏi phỏng vấn qua email, mà không hề gọi điện trước, đặt vấn đề, xem nhân vật có đồng ý hay không. Cũng vẫn là thái độ của mấy bạn nhà báo này, các bạn í chắc lại nghĩ đang ban phước đây, và người được phỏng vấn không trả lời mới là lạ.

 

Mình nói thật với các bạn phóng viên chuyên phỏng vấn qua email không cần biết nhân vật có đồng ý hay không nhá, rằng là các bạn cũng nên biết thế nào là tôn trọng, nên biết thế nào là văn hóa tối thiểu của người đi phỏng vấn. Các bạn mà làm báo kiểu ấy, thì chỉ có thể “trồng cải” thui. Cả mấy bạn sinh viên sắp đi “trồng người” nữa, cũng “trồng cải” nốt.

XẢ SÌ TRUÉT KÉ">Trackbacks (0) KÉ">góp ý (2)   

Cách đây chừng hai chục năm, cạnh nhà mình có một gia đình người Tày. Người Tày có đặc điểm là nước da rất trắng, môi rất đỏ, mắt đen, tóc mượt, dáng người mảnh dẻ, óng ả. Hai vợ chồng đều đẹp nức tiếng lúc còn trẻ. Chồng công tác trong ngành Hải quan, vợ vốn là Công an vũ trang (tức bộ đội biên phòng). Tiếng là dân tộc Tày nhưng sống khá văn minh, mặc dù vẫn ở trong một cái nhà sàn rất lớn. Hồi ấy, văn minh Video vừa tràn tới cái xóm nhỏ hiu quạnh, và tiên phong trong lĩnh vực này không phải bất kì một gia đình người Kinh nào khác mà chính là gia đình của hai ông bà này. Từ lâu, họ đã không nuôi trâu bò dưới gầm sàn. Gầm sàn vốn rất sạch sẽ, mát mẻ, chỉ để nông cụ và một cái quan tài sắm sẵn cho bà mẹ già. Mình và bọn trẻ con vẫn chơi trốn tìm trong cái quan tài ấy. Họ quây kín bốn phía cái gầm sàn  bằng ván gỗ, chỉ mở một lối ra vào chừng hơn mét, có bàn bán vé hẳn hoi, cộng vài thanh niên cháu chắt đứng gác cổng. Vé xem phim Video có giá 1-2 ngàn đồng. Hai đứa con gái còn rang cả lạc, hạt hướng dương, đóng vào túi nilon để bán cho khách xem phim nữa. 100% phim dài tập  là phim Hồng Kông, Đài Loan, chủ yếu là phim chưởng.  Thời ấy chỗ nhà mình chưa bắt được tín hiệu truyền hình, cũng chưa có điện lưới, nên nhà họ chiếu phim phải dùng máy nổ. Khỏi phải nói người đến xem đông như thế nào. Mà cái giống phim dài tập, đã xem một tập rất khó bỏ tập sau, nhất là ở cái thời phim ảnh là món vô cùng xa xỉ. Nhưng việc bỏ 1-2 ngàn ra để xem phim cũng không phải là chuyện đơn giản đối với mọi gia đình, vì đã đi xem chẳng lẽ bố mẹ đi thôi còn bắt các con ở nhà? Trong khi cuộc sống chỉ trông vào vườn tược, đồng áng, gia cầm. Thế là đêm nào cũng có một toán thanh niên, trẻ con, thậm chí cả người lớn, đứng chờ chực tít mãi ngoài đường ô tô, đợi đến khi nào chủ nhà “tháo khoán” thì ồ ạt chạy vào xem miến phí. Đương nhiên, lúc tháo khoán thì phim cũng chiếu được ít nhất hai phần ba rồi. Thi thoảng, một vài đứa trẻ phát hiện ra vách che “rạp” có chỗ hở, đã rủ nhau lẻn ra đấy, hé mắt xem ké. Nhưng xem ké như thế rất khổ, vì không được đứng thẳng, mà phải khom người suốt hàng giờ đồng hồ, muỗi thì vô vàn, chưa kể chủ nhà phát hiện ra đương nhiên sẽ đuổi thẳng cổ.


alt
Nhớ lại chuyện xem phim “tháo khoán”, xem ké qua khe vách cách đây hơn hai chục năm, đã tưởng chỉ xảy ra trong cái thời mà một cái xoong rang thịt, ba bốn đứa con thay nhau cho cơm vào trộn đi trộn lại mà thôi. Hóa ra không phải như vậy.

Sáng nào hai mẹ con mình cũng chở nhau trên xe máy đến trường, ngang qua công viên Thống Nhất. Sáng nào cũng thấy hình ảnh các mẹ đang tập thể dục theo nhạc. Nhạc rất to, tiếng huấn luyện viên cũng rất to, và các mẹ thì (trộm vía, vòng nào ra vòng nấy, lúc la lúc lỉu) ra sức đánh hông, lắc eo, xoay bụng, cứ gọi là huỳnh huỵch. Hôm nào Bống nhìn thấy hình ảnh ấy cũng rinh rích cười. Lại còn nói thêm: Ai cũng béo mẹ nhỉ. Ờ, thì có béo rồi mới nghĩ đến chuyện tập thể dục, lúc đang eo ót thon thả thì chả nghĩ đến bao giờ. Rồi, tập thể dục theo nhạc ở công viên có người hướng dẫn cũng là chuyện hết sức bình thường. Nhưng hôm nào mình cũng thấy có một vài chị, mớ rau treo trên hàng rào công viên, người thì đứng trên vỉa hè, chỉ cách lớp tập thể dục mỗi cái hàng rào, cũng theo nhạc, theo huấn luyện viên ra sức đánh, lắc, xoay, trái, phải… không thiếu một động tác nào. Bống lại hỏi: Sao cô ấy không vào trong kia hả mẹ? Mẹ không nỡ trả lời rằng đấy là họ chỉ tập ké thôi. Chắc không phải vì không có tiền (vì nếu nghèo đến vậy thì họ không có tâm trí nào mà tập thể dục để lấy cái eo thon), mà vì họ không thích trả tiền. Và trong khi có thể không trả tiền vẫn được sử dụng dịch vụ như người trả tiền, thế thì dại gì mà phải móc tiền trong túi ra.

mình thấy, có nhiều người không thích trả tiền cho những việc cần phải trả tiền.

 

Hồi trước, cạnh nhà chồng mình có một nhà hàng xóm rất hay bớt xén tiền phí vệ sinh hàng tháng. Vì cái cách tính phí vệ sinh là tính theo đầu người. Người đi thu phí thường chỉ hỏi một lần để ghi vào sổ: Nhà mấy người? Rồi suốt năm cứ thế nhân lên mà thu. Thỉnh thoảng hỏi lại: Nhà dạo này mấy người? Người nào thật thà thì trả lời đúng, nhưng riêng nhà hàng xóm thì chưa bao giờ tôi thấy trả lời đúng. Mặc dù họ có cửa hàng, nhân viên làm thuê khi nào cũng 3-4 thanh niên. Bảy người thì chỉ khai có bốn, năm người chỉ khai có 3. Thì ai mà vào tận nhà để đếm đầu người chứ, cứ phiên phiến mà thu vậy.

 

Lại có nhà khác, vặn rất nhỏ cái vòi nước máy, sao cho nó cứ ri rỉ chảy dòng nước chỉ bằng non nửa cái đũa ăn cơm. Dưới vòi thì hứng cái xô, lúc nào xô đầy (chắc phải hàng tiếng đồng hồ), lại xách đổ vào cái thùng to tướng trong toilet. Và vì dòng nước rỉ ra bé quá nên cái đồng hồ đo nước không nhích lên một vạch nào. Hàng tháng, nhân viên thu tiền nước đều kinh ngạc về độ tiết kiệm nước của gia đình này, vì hộ 4 khẩu mà chỉ dùng hết có… 12 nghìn tiền nước!!!

 

Dùng ké, trốn trách nhiệm trả tiền, mình có bà chị gọi là: Tham ô một cách văn minh. Nói xong, cười khì khì.

 

Phải, chẳng cười khì khì thì biết nói sao, vì bà ấy cũng vừa từ công viên về.

 

TIN NHẮN VÀ NHẮN TIN

XẢ SÌ TRUÉT TIN NHẮN VÀ NHẮN TIN">Trackbacks (0) TIN NHẮN VÀ NHẮN TIN">góp ý (9)   

Nokia 6760 Slide với thiết kế mạnh về nhắn tin. Ảnh: Gsmarena.

 

Mình đã thực sự ngạc nhiên, khi trong một buổi sáng đang làm việc thì nhận được một cái tin từ… bà ngoại: Mẹ đã biết nhắn tin (tất nhiên là tin không có dấu). Năm nay bà bảy mươi tư tuổi. Một bà lão bảy mươi tư tuổi, từ rừng về, mới sử dụng điện thoại được chừng 2 năm (là món quà ông lão tặng), chỉ riêng cái việc biết gọi đi và biết nhận điện thoại gọi đến đã là một điều đáng nể, đằng này bà còn biết chụp ảnh bằng điện thoại, cài đặt làm hình nền, chọn bài hát trong thẻ nhớ… và giờ, lại còn nhắn tin nữa mới kinh. Mình nhắn lại: Choáng! Mà choáng thật.

Nửa đêm, điện thoại rên hừ hừ, chồng nói kháy: Anh nào mà nhắn nhe muộn thế? Mở ra, là bà ngoại: Bống Nhi đã ngủ chưa. Hóa ra đang luyện, mà chả biết luyện với ai đành luyện với con gái.

Nhân chuyện bà ngoại, nói tới cái sự nhắn tin.

Mình có một đứa cháu, một tháng nó mất 700 ngàn tiền tin nhắn. Giả sử mỗi tin nhắn giá 300 đồng, tức là trong tháng ấy nó nhắn khoảng 2.330 cái tin, tức mỗi ngày nhắn gần 80 cái tin. Chưa nói tới việc nhắn cho ai, nhắn những việc gì, riêng cái việc soạn hết tám chục cái tin, ngắn có dài có, lại gửi đi nữa, lại đợi phản hồi, rồi hoặc là cười hi hí hoặc là lủng bủng cáu bẳn thì đã hết không biết bao nhiêu thời gian. Sau thì phát hiện ra là nó nhắn tin rất tài. Nó hoàn toàn có thể vừa xem ti vi vừa nhắn tin, mắt vẫn dán vào ti vi nhưng tay thì bấm như múa, mà đâu phải dùng một điện thoại, có khi là nhắn hai máy một lúc, có lúc nhắn ba máy một lúc. Vừa nhắn vừa cười, không biết cười vì tin nhắn hay cười vì ti vi. Nó bảo: Phải phát triển đến cái đoạn ấy thì mới thấy hết hiệu quả của công nghệ chứ lò dò như cô thì có mà thế giới chỉ đi thụt lùi.

Nhưng cũng có người không bao giờ nhắn tin. Ông xã mình ở trong nhóm ấy. Mặc dù đã dùng điện thoại di động từ cái thời số người dùng mới chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng không bao giờ nhắn tin. Đang tính tính toán toán cái gì mà có thằng nào nhắn tin đến, không những không thèm nhắn trả lời mà còn nhấc điện thoại lên, gọi ngay lại: Đàn ông đàn ang đ. gì cái loại tiếc cả một cuộc gọi thế hả, vứt mẹ nó điện thoại đi. Nói xong, tắt bụp. Chắc hẳn phía đằng kia đang ngã ngửa ra.

Có lần hai vợ chồng tranh luận cả buổi, về cái sự vì sao có lúc phải nhắn tin. Theo quan điểm của mình thì tin nhắn có cái lợi thế riêng của nó, ví dụ như lúc đang ngồi trong một cuộc họp nào đấy mà diễn giả trên bục lại chỉ khiến người nghe buồn ngủ thì lúc ấy cái điện thoại phát huy hiệu quả tin nhắn cực độ; hoặc giả khi nhận được một cái tin nào đó, đặt vấn đề gì đó, thấy OK thì chỉ cần nhắn OK, xong. Rất nhanh, rất hiệu quả, rất dễ hiểu. Nhưng cuộc tranh luận không thể ngã ngũ, vì cả hai đều rất bảo thủ. Và rốt cuộc là, trong mười năm chung sống, chỉ có mình nhắn tin đi mà không bao giờ có tin nhắn của chồng gửi đến. Tết nhất mới tệ chứ, hàng trăm cái tin bạn bè chúc mừng năm mới, ông í không trả lời bất kì một cái tin nào. Vì ông í cho rằng, chúc mừng kiểu ấy là không thật lòng, chắc chắn người gửi đã soạn một tin gửi cho khoảng vài chục người. Thế thì đừng gửi còn hơn.

Ngược lại, có những người rất thích dùng tin nhắn. Vì làm sao? Vì ông/bà ta rất kém cái khoản nói, nhưng lại rất tốt cái khoản viết. Trong khi nói có thể vòng vo ba lần Hồ Gươm chưa về tới đích, thì khi soạn tin nhắn có thể ngẫm ngợi, chọn lựa câu nào, chữ nào, thậm chí soạn rồi thấy chưa rõ ý lại xóa đi, soạn lại. Thế là đêm ngày lúc nào cũng kè kè cặp kính trong túi áo. Chốc chốc lại rút kính ra, rút điện thoại ra, mắm môi mắm lợi soạn tin. Chấm, phẩy, chấm than, hỏi chấm, ba chấm, ngoặc đơn, ngoặc kép đủ cả. Nhưng vì già nên dù soạn rất nhiều vẫn không thể đạt tới cái độ nhắn tin không cần nhìn bàn phím, hay vừa nhắn vừa xem ti vi được. Mà mỗi lần nhắn trông đến là thương. Mắt thì kém, đeo chồng hai cặp kính vẫn kém, điện thoại thì (mặc dù rất nhiều xiền nhưng ki bo, dùng cái điện thoại bảy năm chưa chịu thay) cũ đến mức ở những chữ C, S, T luôn phải bấm lần thứ 3 nó mới hiện lên. Thế là soạn xong một cái tin có khi mất mười phút. Xong, rót một chén trà, nhấp ba ngụm liền, khà một cái, ngửa mặt nhìn trần nhà lim dim chờ đợi người ta trả lời. Mình nhìn ngứa mắt quá, bảo: Chú không gọi quách cho xong, sốt cả ruột! Thì nghe mắng liền: Mày là cái loại kéo lùi bước tiến thời đại (thế là đã hai người kết cho mình cái tội nì). Người ta đã nghĩ ra điện thoại di động, tức là phải tận dụng hết chức năng của nó. Và trong khi tận dụng thì phải tính đến yếu tố kinh tế, có thế mới là văn minh. Một cái tin nhắn mất 300 đồng, một cuộc gọi ít cũng 1200 đồng, rẻ gấp ba. Mình cãi: Nhưng để giải quyết một nội dung, có khi chú gọi một cuộc là xong, còn chú nhắn, phải mất 5-6 lần. Hóa ra, tưởng rẻ, vẫn đắt. Đến đoạn này thì sửng cồ thật, chạm nọc thật: Biến! Rách việc.

Trở lại việc bà ngoại soạn tin nhắn. Vừa nhận được một tin nữa: Chao co da di mua thit lon chua khong phai tra loi (Chú thích: Chào cô đã đi mua thịt lợn chưa không phải trả lời). Nói thế, nhưng mình biết là nếu nhận được tin trả lời sẽ rất khoái. Sẽ đeo kính lên, thậm chí mang ra gần cửa sổ nhìn cho rõ, đọc đọc, dịch dịch, không dịch được lại gọi thằng cháu nội: Giang, ra dịch cho bà xem cô T nhắn gì đây. Cho nên, nhắn lại: Hom nay con cho ca nha an chay, khong can thit.

ĐỒNG VĂN ĐỒNG VĂN

VỀ NƠI CỰC BẮC ĐỒNG VĂN ĐỒNG VĂN">Trackbacks (0) ĐỒNG VĂN ĐỒNG VĂN">góp ý (3)   
Những bức ảnh này tôi cop về từ một trang mạng của các tay máy phượt, họ dự định làm một triển lãm ảnh về Đồng Văn, tại Đồng Văn vào cuối tháng này. Trong kế hoạch của họ, sau khi triển lãm, sẽ tặng ảnh cho chính các nhân vật. Những bức ảnh đều đẹp, rực rỡ, và... những nụ cười thật đáng yêu biết mấY. Ai bảo, cuộc sống này chỉ có nhọc nhằn chứ. Chợt nhớ một câu hát của người nhạc sĩ đã xa: Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá. Hãy yêu nhau đi dòng nước đã trôi xa. Nước trôi qua tim rong đầy trí nhớ. Ngày mãi mong chờ ngày sẽ thiên thu...

alt
Nụ cười này em dành cho ai?
alt
Mình gọi đây là Nụ cười vàng
alt
Lưỡi cuốc đã mòn, như cuộc đời.
alt
Âu lo tan biến
alt
alt
Giống bạn Thương - nàng Pao của mình
alt
Mơ ước đầy tay
alt
Dấu thời gian còn lại
alt
Thương nhất đôi bàn tay
alt
Thêm một Nụ cười vàng nữa
alt
alt

 

TRUYỆN HAI NGHÌN CHỮ

TRUYỆN CỦA ĐỖ BÍCH THÚY TRUYỆN HAI NGHÌN CHỮ">Trackbacks (0) TRUYỆN HAI NGHÌN CHỮ">góp ý (9)   

Truyện ngắn này mình viết theo yêu cầu của một ông anh mà mình rứt quý, rứt nể. Bác í bảo: Cô cho anh một cái truyện 2000 chữ nhé. Mình OK. Ngồi vào máy, gõ, gõ, gõ. Xong, word count đếm: 2.167 chữ. Viết một mạch, không sửa một dấu phẩy. Thấy mình hình như đã đến cái đoạn "trứng gà công nghiệp" mất rùi. Văn chương mà cứ thế này thì hỏng roài! Vứt roài! Thế mà bác í vẫn in, vẫn trả nhuận bút để mình tiêu tết. Hức! Lương tâm cắn rứt quá.

 

alt

 

KHÁCH QUÝ

 

Truyện ngắn: ĐỖ BÍCH THÚY

 

Trời sẩm tối, sương mù đã giăng kín những khoảng trống trước nhà, ngay cả con đường mòn xuống núi, dù rất gần cũng không nhìn thấy nữa. Bà May rón rén ra chỗ con gà mái đang ấp trứng, luồn tay xuống dưới bụng nó, ôm vào trong bếp. Bà không hề biết đứa con gái nhỏ đang đứng nép sau gốc cây lê to, nhìn theo bà, nước mắt ứa ra quanh mi. Nó đã mong đàn gà con sắp nở biết mấy. Mỗi sáng thức dậy, việc đầu tiên khi vừa chui ra khỏi chăn là nó lấy dao vạch một nhát lên cây cột nhà. Nó đang tính xem còn bao nhiêu ngày nữa thì đàn gà con sẽ nở.

 

Nhưng nhà không còn gì để tiếp khách quý, nên dù tiếc lắm, bà May vẫn phải làm thịt con gà mái duy nhất.

 

Khách này rất đặc biệt.

 

Khách mang tới một bao ngô giống, kèm cả hai bao phân bón nữa.

 

Sắp đến mùa gieo ngô rồi nhưng trong nhà không còn một hạt ngô giống. Ngô trên gác bếp vẫn còn một ít, nhưng đã bị mọt đục gần hết, chỉ có thể đem ra xay làm mèn mén ăn qua bữa thôi. Vợ chồng bà May cũng đã đi khắp nhà này nhà khác quanh xóm, xem có vay ai được một ít ngô giống không, nhưng chẳng ai có.

 

Thế mà bỗng dưng lại có người mang tới cho hẳn một bao, lại còn kèm theo cả phân bón nữa chứ. Thế thì đúng là khách quý rồi.

 

Bà lẳng lặng cắt tiết, làm thịt con gà. Nhìn dòng máu từ cổ gà chảy vào bát, bà cảm thấy như máu mình đang chảy. Thương con gà này lắm. Vốn nó cũng có một con gà trống làm bạn đấy, nhưng vừa rồi, ông Thào bị ốm, phải mời thầy mo về làm lễ đuổi con ma đi, đã phải mang con gà trống ra cho ông ấy cắt tiết. Chỉ còn mình nó, với mười một quả trứng, bà để dành cho nó ấp, mong rằng sớm có đàn gà con. Con gà này rất biết điều, chăm chỉ nhặt nhạnh tự tìm đồ ăn, không bao giờ quanh quẩn bên bếp, cũng không bao giờ đi bậy lên hè nhà.

 

Thịt gà đã bày ra, hai đĩa to tướng, khói bốc nóng hổi. Nhưng ngoài khách ra, chẳng ai ăn một miếng nào. Riêng đứa gái út còn bỏ luôn cả cơm, leo lên giường ngủ từ bao giờ.

 

Khách ăn nhồm nhoàm, uống ừng ực, như bị bỏ đói mấy ngày. Bà May không giấu nổi niềm hân hoan, chốc chốc lại nhìn bao ngô ở góc nhà. Thỉnh thoảng lại tự cấu mình một cái, để biết chắc đấy là thật.

 

Khách ăn xong, leo lên giường, chui vào chăn, một chốc đã ngáy ầm nhà.

 

Bấy giờ bà May, ông Thào và con gái lớn, con trai lớn mới rón rén lấy bao ngô ra bếp, thổi cho lửa cháy to lên để nhìn cho rõ. Cả nhà cùng vục tay vào trong bao, không nhìn thì cũng thấy từng hạt ngô to mẩy, nhẵn bóng, nặng trịch, vàng óng đang nằm yên trong bao thật rồi.

 

Khách còn ở lại mấy hôm nữa mới đi. Cũng không sao, thêm bát thêm đũa, có gì ăn nấy là được rồi. Khách cũng dễ tính, vui vẻ, cởi mở, lại chịu khó. Nhà làm gì khách cũng tham gia làm nấy. Thấy mọi người có vẻ ngạc nhiên vì mình thạo việc, khách cười cười:

 

- Thì cũng người Mông ta cả, có việc gì mà không biết làm chứ. Nhưng nhà cháu bên kia đông anh em trai, nên bố mẹ cháu không vất vả như hai bác.

 

Đúng là nhà có nhiều con trai thì tốt thật. Mỗi đứa lo một việc, khắc đâu vào đấy, bố mẹ chỉ có việc ngồi uống rượu, yên tâm ngủ cho ngon.

 

Tuy khách nói là người Mông, nhưng cũng có đôi chỗ không giống người Mông Sủng Tráng. Khách béo tốt hơn, trắng trẻo hơn, cao lớn hơn đám thanh niên Mông ở đây. Chắc tại nhà nó giàu hơn nhà mình, được ăn uống tốt hơn. Bà May nghĩ thế. Con gái bà cũng nghĩ thế.

 

Con gái bà thì càng gần đến ngày khách phải về nhà càng thấy bồn chồn. Có mỗi cái bậu cửa mà đi ra cũng vấp, đi vào cũng vấp. Mẹ càu nhàu, con gái lớn chỉ cười cười. Không cười thì chẳng lẽ lại nói con vấp không phải tại cái bậu cửa, mà tại cái người đang đứng bên gốc cây lê kia, làm như đang nhìn ra đường mòn đợi người đến đón, nhưng thực ra thì mắt lại nhìn con. Ầy, chỉ nhìn thôi mà cũng khiến cho người ta ra vấp vào vấp đến thế đấy. Nếu mà đến gần nữa thì…

Nhưng khách không đến gần đứa gái lớn, chỉ đứng xa xa nhìn thế thôi.

 

Rồi cũng đến lúc khách đi. Khoác cái túi vải lên vai, nhặt cái mũ nồi vẫn vứt bên bếp lò, nhét cái đèn pin vẫn đề đầu giường ngủ từ hôm đến vào cạp quần, rồi đi ra cửa. Đi một đoạn, quay lại nhắc:

 

- Hai bác nhớ phải lót phân xuống trước rồi hẵng gieo ngô nhá. Hôm nào cây ngô cần vun gốc thì cháu sẽ tới.

 

Bà May nói với theo:

 

- Không phải thế chứ. Cho nhau bao ngô giống là quý lắm rồi, không dám nhờ làm cỏ ngô nữa đâu.

 

Khách nhảy tót lên sau chiếc xe máy màu xanh, xe nổ phành phành, khói phả mù mịt, lao vù vù xuống đường mòn, một lúc, mất biến.

 

Từ hôm ấy, đứa gái lớn chỉ có một việc quan trọng nhất là nhìn xem cây ngô mọc mầm, chồi lên khỏi hốc đá; cây ngô ra một lá, hai lá; cây ngô có một đốt, hai đốt… Và, đúng đến lúc cần phải làm cỏ, vun gốc ngô thì khách quay trở lại thật.

 

Lần này, khách đi một mình, trên một chiếc xe máy màu đỏ. Khách đúng là con nhà giàu. Lần đầu tiên, khách gặp gái lớn ở chợ, hôm ấy khách đi xe màu vàng. Ba lần gặp, ba chiếc xe máy, mỗi chiếc xe máy bằng hai con bò. Thật là ngạc nhiên quá đi mất. Cả bản này chưa ai có xe máy để đi, nhà nào gọi là giàu thì có một con ngựa, chỉ để dành lúc thồ hàng xuống chợ. Thế mà khách thì thay xe như người ta thay áo vậy.

 

Khách còn chở theo tặng chủ nhà một con chó con. Con chó lông đen tuyền, hai mắt tròn xoe, tai vừa dài vừa cụp. Loại chó tai cụp trông nhà rất tốt, vì nó có thể ngủ ngoài sân, ngoài hè, chỉ cần cụp hai tai xuống che sương che gió là chịu được. Chứ nếu là loại tai vểnh thì chủ nhà cũng không cần.

 

Con chó đã mang đến một niềm vui lớn cho đứa gái nhỏ. Sau khi con gà mái bị mổ thịt, nó đã mang mười một quả trứng vào nhà, ngày nào cũng ủ trong chăn, tối nào đi ngủ cũng ấp vào bụng, nhưng trứng vẫn không nở thành gà được, thối hết cả. Nó đã khóc hàng tuần liền. Giờ có con chó, nó vui hơn cả tết.

 

Khách đến buổi trưa thì buổi chiều đã theo bà May và đứa gái lớn ra nương. Đúng là giống ngô tốt cho cây ngô tốt. Nương ngô nhà bà May xanh nhất, cao nhất, đến nỗi nhìn từ xa, khỏi phải hỏi cũng biết đâu là nương ngô nhà bà. Cây ngô mập mạp như cây mía, lá dày, những sợi râu ngô trắng ngà cũng bắt đầu nhú ra trên cái bắp non, hứa hẹn một vụ ngô được mùa. Khách làm cỏ, vun gốc đều rất dẻo tay. Lại toàn lựa những chỗ gái lớn đang làm để làm cùng. Thỉnh thoảng nói một câu, bâng quơ như nói với người qua đường nhưng khiến người bên cạnh muốn rơi cả tay ra khỏi cán quà.

 

Ăn cơm tối xong, khách mang cái đài nhỏ tí ra đầu hồi ngồi nghe ca nhạc. Đài thì gái lớn thấy rồi, nhưng bé tí, đặt gọn được trong lòng bàn tay thì gái chưa nhìn thấy bao giờ. Tài thật. Bé tí mà đựng được bao nhiêu thứ. Tiếng hát ở trong ấy mới hay làm sao chứ. Gái lớn ngồi bên khung cửi mà tai thì cứ để ra đầu hồi, mắt không nhìn nhưng chắc cũng để ra đấy nốt.

 

Một ngày, hai ngày, ba ngày… khách quý vẫn cùng cả nhà đi làm cỏ ngô, vun gốc ngô. Sắp hết vạt nương rồi, tức cũng sắp đến lúc khách quý chẳng còn lý do gì để ở lại nữa rồi. Gái lớn nghĩ tới lúc không nhìn thấy bóng dáng người ấy nữa, không nghe thấy tiếng người ấy nữa, không nghe được cả tiếng hát phát ra từ cái đài bé tí người ấy hay đeo bên sườn nữa… thấy buồn đến tê tái.

 

Trước phiên chợ hai ngày, buổi tối, khách quý không mang đài ra đầu hồi nghe ca nhạc nữa, mà đưa cái đài cho ông bố:

 

- Cháu sắp phải về nhà rồi. Tặng bác cái đài này nghe cho vui nhé.

 

Ông bố giật mình:

 

- Ối, cái đài quý lắm. Bác không dám nhận đâu.

 

Khách quý:

 

- Quý cũng không bằng tấm lòng. Tấm lòng bác còn cho cháu được, cháu tiếc gì cái đài chứ.

 

Ông bố rưng rưng, bà mẹ thì suýt khóc thành tiếng. Người đâu mà ăn nói dễ nghe thế chứ. Chẳng như đứa trai nhà này. Nói một câu nghe tức một câu.

 

Khách ngập ngừng:

 

- Trước khi về nhà, cháu muốn xuống chợ huyện mua cho bố mẹ ít quà. Bên này cháu thấy có nhiều thảo quả với thịt bò sấy khô, bên chợ nhà cháu thì hiếm lắm.

 

Bà mẹ:

 

- Phải rồi. Đi xa về phải có quà chứ. Rồi như tiện mồm, bà quay sang con gái: Mày đưa người ta xuống chợ huyện, dẫn đến hàng thảo quả của bà Sinh, hàng thịt bò sấy của ông Chỉnh nhá. Phải biết chỗ mua thì mới mua được hàng ngon đấy.

Khách quý:

 

- Thế thì tốt quá rồi. Tiện thể, cháu mua biếu hai bác một ít luôn.

 

Bà mẹ:

 

-  Không cần đâu. Không cần đâu.

 

Khách quý:

 

- Cũng vẫn là tấm lòng thôi mà.

 

Sáng sớm hôm sau, hai người ra khỏi nhà. Đường xuống chợ rất xa, đi hơn nửa ngày mới tới. Vừa đi vừa gặp người quen, chuyện trò vui vẻ, quên cả mỏi chân.

 

Ở nhà, kể từ lúc hai người trẻ đi chợ, hai người già cũng không ngủ được nữa. Ông mang cái đài ra bếp, bảo bà thổi lửa cho sáng lên, rồi bật đài,  hí hoáy xoay xoay vặn vặn.

 

Nhưng hai người đi chợ, đi luôn không về. Đến hết vụ ngô cũng không thấy về. Ngô đã thu hết, bắp vàng ươm treo lủng lẳng đầy trên gác bếp, cây ngô cũng đã chặt về dựng thành đống to tướng ở đầu hồi, vậy nhưng cả người cho giống ngô lẫn người trồng ngô vẫn chưa thấy về.

 

Đứa gái nhỏ ngày nào cũng ôm con chó có hai cái tai vừa dài vừa cụp, ngồi trên tảng đá trước cổng, nhìn ra con đường mòn ngoằn ngoèo dẫn xuống phố huyện. Miệng hát:

 

Mùa xuân hoa đua nở tươi, nở nhiều/ Chị như mẹ, sao chị bỏ em chị đi/ Nhìn vết chân chị đi nương trồng bông, kéo sợi/ Em chết nửa lá gan…

 

Nghe đứa gái nhỏ hát, tiếng hát buồn bã như tiếng con gà lạc mẹ, bà May chỉ biết chúi đầu giữa hai đầu gối, mặc nước mắt ngấm ngầm chảy. Đứa gái lớn đã đi thật rồi. Nó còn đi xa hơn phố huyện. Bạn nó nói, gặp hai người ở chợ huyện, đứa gái lớn bảo: Hai người sẽ đi thật xa, qua cả biên giới, bên ấy kiếm tiền dễ lắm. Mỗi tháng có thể kiếm được ba triệu, năm triệu. Ầy, ở nhà thì một năm cũng không kiếm được một triệu. Nó còn nói thêm, kiếm được nhiều, đủ tiêu cả đời thì sẽ về.  Khi về, mang theo cả con rể, cả cháu ngoại luôn.

 

Và bà, ngày nào cũng muốn gọi: Cháu ngoại ơi, cháu ngoại ơi. Mang mẹ về cho bà với chứ.

 

Nghĩ thế, nhưng không dám tin thế.



Powered by Vnweblogs