I’m glad my daughters are all beautiful

Shallow though it sounds, I would have rather been very good-looking than have a talent with words

New Tim Lott

I was rather distressed to read this week that according to a survey from the University of Vienna, older fathers are more likely to have unattractive children, due to the risk of genetic mutation. As someone who didn’t start breeding until I was 40 and at the age of 58 still have a seven year old, this is slightly disturbing, not to mention insulting.

However, I clearly buck the trend as all my four daughters are extraordinarily good-looking. Of course, most parents believe this, even the ones with little mutants, but in my case it happens to be true. I am proud that they are so physically attractive. But at the same time, I am rather ashamed of being proud, if that makes sense.

Physical appearance shouldn’t make any difference at all. But then, every parent has a double standard on this. We tell our children that it is the beauty inside that matters, not the outward appearance. Girls especially are liable to be informed on a regular basis by parents that they are pretty, in order to bolster their self-esteem – and perhaps the self-esteem of the parents. Whether it does so or not is a moot point – children quite quickly learn to discount any praise their parents give them as unreliable. But the question is, why do we feel the need to constantly reassure children about their physical attractiveness?

I have to admit that this is something of a personal issue for me. I was born sickly and with a cleft lip. Combined with parents and brothers who were much better put together, I have always been insecure about what I look like. I try to tell myself that it doesn’t matter. The only trouble is, that it’s a lie.

I remember very clearly – and the fact I remember it clearly surely indicates its meaning – asking my mother, when I was maybe five or six, if I was goodlooking. The long pause that followed, along with the rather faint utterance “Well, I think you are” told me everything I needed to know about my appearance. From then on I knew I had to rely on qualities other than my dazzling smile or glittering eyes to win the world over.

Of course it would be over-simplistic to suggest that the sense of professional ambition and drive I have always felt is a compensation for feelings of physical inadequacy. But there’s something in it. And strangely enough, any success I have had doesn’t compensate – not fully. This is the outcome of perceiving oneself as marred. Shallow though it might appear, I would rather have had striking good looks than any amount of talent with words. As survey after survey makes clear, the good-looking are happier, better thought of and have easier lives.

I’m sure that this has been true ever since the beginnings of civilisation. Our evolutionary instinct inclines us towards even features, healthful-looking skin, and a good physique, to ensure the procreation of the species.

In modern times, the demands of story, both in fairytales – handsome prince and beautiful princess – and dramas, still require physically attractive players. The top 20 best-paid Hollywood actors may not have a lot in common. But they are all, without exception, very good-looking. This is because their job is to fulfil fantasies of what we wish to be.

So I shall carry on telling my children that they are beautiful. It happens to be true, but I would tell so them even if it weren’t. As girls, they have a whole world of media to inform them that they fall short of the ideal, and if there’s anything I can do to redress the balance, in favour of their self-confidence, I will do so.

It is absolutely true that the world inside them is the most important thing.

It’s just that the world outside them so often forgets the fact.

http://www.theguardian.com/lifeandstyle/2014/apr/04/importance-beauty-daughters-good-looking

Niềm hạnh phúc giản dị mà vô giá…

34.5 wks.
Cảm ơn con đã đến bên ba mẹ… Con bù đắp cho những tổn thương, con mang đến niềm vui vô bờ bến, mang đến ý nghĩa và nâng đỡ tình yêu cuộc sống cho mẹ, cho ba. Con làm cho mẹ hiểu thế nào là hạnh phúc! Niềm hạnh phúc giản dị mà vô giá…

Hãy khỏe mạnh con nhé, ba mẹ đếm từng ngày từng giờ mong đến ngày gặp con gái.

Thiên thần bé, ba mẹ yêu con nhiều lắm!!!

Link

Cơn mưa hạ

Cơn mưa hạ

Từng hạt mưa nhẹ như những tiếng đàn
Tình gọi tình, vòng tay quá ngỡ ngàng
Làn môi hôn rét căm trong đêm
Tình nghiệt oan đưa ta vào vòng ái ân.

Nhạc gọi người hay mưa trút xuống đời
Thành giòng lệ, thành đêm bão tố về
Rồi từ đó cũng nghe trong em
Lòng đổ mưa, cơn mưa hạ về giữa đêm.

Em

(St)

Chồng thức suốt đêm chăm sóc vợ ốm, sáng ra hỏi: “Hôm nay thấy thế nào? Còn đau không?”.
Người ấy đến thăm, hỏi: “Hôm nay em thấy thế nào? Còn đau không em?”.

Chồng hì hụi nấu cho vợ bát cháo, bưng đến, nói: “Ăn đi cho toát mồ hôi…”

Người ấy đến đúng lúc bát cháo còn để trên bàn, bảo: “Em ăn đi kẻo nguội…”

Sáng thấy trời trở gió, chồng đưa cho cái áo khoác bảo: “Trời lạnh đấy…”

Người ấy nhìn thấy quấn kín mít trong đống áo quần, hỏi: “Có lạnh không em?”

Chỉ thêm một từ “em” mà sao nghe lòng cứ rưng rưng. Người ấy thật dịu dàng, thật trìu mến, thật đáng yêu.

Chỉ thiếu một từ “em” mà thấy lòng lạnh tanh, ngao ngán thấy ông chồng thật khô khan, cục mịch.

Chỉ vì một từ em mà chị đã xao lòng. Chỉ thiếu một từ em mà chị cảm thấy hụt hẫng, người đâu mà khô như ngói.

Chị thật chóng quên. Trước kia anh đâu có thế. Nhưng…

Anh vừa hoàn thành công trình được nghiệm thu xuất sắc, vội lao về nhà để đưa vợ đi nhà hàng chiêu đãi, mặc cho đồng nghiệp í ới rủ rê đi nhậu, nhưng gặp ngay nét mặt lạnh lùng của vợ:

- Hôm nay thất nghiệp hay sao mà giờ này đã về…

Nguội cả niềm vui.

Vui quá vì nhận được một hợp đồng béo bở, về thấy vợ đang lúi húi nấu cơm, thương vợ quá nên bàn:

- Em tìm thuê lấy người giúp việc cho đỡ vất…

Vợ cau có:

- Sợ vợ vất vả hay thích có bà bé trong nhà?

Tình yêu vụt tắt.

Có hôm tự nhiên nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa thấy yêu vợ lạ lùng, chẳng kìm được lòng đến bên vợ hôn một cái. Vậy mà vợ quay ngoắt lại, giương mắt lên hỏi:

- Hôm nay lại làm gì nên tội hả? Anh khai ngay. Hôm nay anh gặp lại người yêu cũ phải không?

Nói là vì yêu vợ quá thì vợ lại phì vào mặt bảo: “Đừng giả dối, đừng đánh trống lảng…”. Buồn cả người.

Có hôm công việc không suôn sẻ, vừa mệt, vừa chán, chỉ mong được về nhà nằm nghỉ bên vợ con cho quên hết sự đời, vậy mà vừa mở cửa, mới bước được có một chân vào nhà vợ đã nhìn lom lom hỏi:

- Hôm nay cãi nhau với con nào hả? Sao mặt mũi trông như thất tình vậy?

Cứ nghĩ, giá như vợ chỉ hỏi một câu: “Anh có chuyện gì mà trông mệt thế?”, chắc sẽ bật khóc mà nói: “Không có em chắc anh không sống nổi…”.

Vợ bước từ phòng tắm ra, trông vợ mát mẻ cứ như thiên thần, yêu thật là yêu, chạy ra ôm vợ vào lòng, ghé tai nói khẽ: “Em xinh thật là xinh. Thơm thế, cứ như được ướp bằng ngàn loài hoa ấy…”.

Vợ hất tay, nguýt dài: “Đừng có tán, tính chuyện vớ vẩn hả… người ta đang mệt đây, để cho người ta yên”. Trăm ngàn tình yêu đều sun cả lại, cụt cả hứng.

Ngày sinh nhật vợ, nhân có tiền thưởng, hứng chí mua cho vợ một bó hoa lan cực đẹp. Cầm bó lan đi đường bao cô gái phải trầm trồ khen, sướng run cả người, tin chắc vợ sẽ vui lắm đây. Vậy mà vợ chỉ nhìn bó hoa đã hỏi ngay: “Bao nhiêu tiền thế? Anh mua hay cô nào mua hộ?” Niềm vui chợt tắt.

Nhưng nào đã xong, vợ truy mãi đành phải nói giá bó hoa (mà chỉ là nửa giá thật thôi đấy), vợ giãy lên đành đạch tưởng bị đứt ruột, kêu rầm: “Kỳ sau đến ngày sinh nhật tôi ông cứ mua cho tôi con gà để tôi ôm là được, đừng có hoa hoét làm gì phí tiền…”.

Cứ thế mà những lời có cánh, những hành động galăng dần dần mai một, héo hon, khô đét.

Có nhiều lúc khao khát được nói những lời yêu thương, khao khát được bày tỏ tình cảm với vợ mà miệng chẳng dám nói lời ngọt ngào âu yếm, sợ phải nhìn ánh mắt nghi ngờ của vợ, sợ phải nghe vợ nói: “Đừng có mà giả tạo, đừng có mà nói điêu…”.

Vợ chẳng biết chính mình đã biến chồng thành mảnh ngói khô khan để rồi cứ thế mà hờn trách, xa rời chồng. Để rồi xao lòng với người đàn ông khác bởi một tiếng “em”..

(st)

10 phẩm chất

Luôn tràn đầy sức sống

10 phẩm chất giúp phụ nữ thành đạt 1

Người phụ nữ tràn đầy sức sống sẽ luôn luôn tỏa sáng 

Khi một người phụ nữ tràn đầy sức sống, luôn tỏa ra nguồn năng lượng và có thái độ tích cực, người đó sẽ thành công. Thái độ tích cực giúp ta làm việc hiệu quả, biến những ý tưởng thành hiện thực.

Bí quyết để luôn tràn đầy năng lượng và có thái độ tích cực là: cố trấn tĩnh bản thân khi gặp thách thức; loại bỏ suy nghĩ tiêu cực; luôn tự tin vào bản thân và hiểu rõ những điểm tốt của mình. Ngoài ra, hãy giao lưu nhiều hơn với những người có thể khuyến khích, truyền cảm hứng cho bạn.

Có tính cạnh tranh cao

Tinh thần cạnh tranh sẽ giúp phụ nữ có thêm sức mạnh vượt qua mọi trở ngại. Sau mỗi cuộc cạnh tranh, bạn sẽ trở nên tốt hơn, có giá trị hơn. Bạn nên coi trở ngại là cơ hội để thể hiện mình và học hỏi chứ đừng nhìn nó như một cuộc chiến khốc liệt. Người phụ nữ thành công là người biết xoay chuyển tình thế, biến những điều khó khăn trở thành lợi thế cho mình.

Mạnh mẽ

Mạnh mẽ không có nghĩa là thô lỗ, hùng hổ, kiêu căng. Sự mạnh mẽ của phụ nữ thể hiện ở tinh thần thép và ý chí bền bỉ. Họ luôn tự tin, quyết đoán và biết tự chịu trách nhiệm cho những việc làm của bản thân. Có một câu nói vui nổi tiếng trong kinh doanh: “liều ăn nhiều”, hàm ý làm doanh nhân phải mạnh mẽ và gan dạ, điều này càng đúng hơn với các doanh nhân là nữ giới.

Có trái tim ấm áp

Người phụ nữ có trái tim ấm áp và bao dung bao giờ cũng gây được thiện cảm với mọi người. Việc xây dựng các mối quan hệ cá nhân cũng rất quan trọng trên con đường dẫn tới thành công.

Tự trọng

Nhiều phụ nữ hay chơi xấu, đâm sau lưng đối thủ. Tuy nhiên, thành công có được từ cách này không lâu bền. Người phụ nữ thành công thực sự phải có lòng tự trọng, đặt danh dự lên trên đồng tiền và sống có lý tưởng.

Biết cân bằng cuộc sống

Không phải cứ lao đầu vào làm việc là bạn sẽ chạm tới thành công. Cuộc sống không chỉ có công việc mà còn xoay quanh gia đình, bạn bè và chính bản thân chúng ta. Nếu bạn thành công trong sự nghiệp nhưng sức khỏe, tinh thần giảm sút, gia đình không hạnh phúc, sự thành công ấy không hề trọn vẹn.

Một người phụ nữ thành công phải biết cách cân bằng cuộc sống về mọi mặt. Điều này giúp họ lạc quan, vui tươi và công việc cũng phát triển hơn nhờ đó.

Sống và làm việc có lý tưởng, định hướng

Nếu bạn sống và làm việc không có mục tiêu, định hướng rõ ràng, bạn không thể thành công. Người phụ nữ sống có lý tưởng, có mục đích rõ ràng và bền bỉ, kiên trì theo đuổi mục tiêu đặt ra sẽ thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.

Luôn cân nhắc và suy xét kỹ lưỡng

 Cẩn thận, chu toàn là phẩm chất cần thiết nếu bạn muốn thành công 

Muốn thành công, bạn không thể vội vàng, mọi bước đi của bạn đều phải được cân nhắc và suy xét kỹ lưỡng, có chiến lược.

Có khả năng truyền đạt

Khả năng giao tiếp, truyền đạt là dấu hiệu cho thấy bạn sẽ thành công, đặc biệt là đối với phụ nữ. Người phụ nữ khéo léo trong giao tiếp, biết linh hoạt, mềm mại khi trò chuyện, thương thảo cùng người khác chắc chắn sẽ thành đạt.

Khả năng tập trung

Đặc biệt là trước những bước đột phá, khả năng tập trung vô cùng cần thiết. Đây là lúc khó khăn, gian nan nhất. Người nào kiên cường, nhẫn nại, tập trung vượt qua thử thách này sẽ chạm được đến thành công.

Id, Ego, and Superego

http://quangduc.com/khoahoc/04phantamhoc.html

So sánh tâm linh con người với một tảng băng, mà tới tám chín phần mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó, những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản thân mình nữa. Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc. Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người. Freud tuyên bố là chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm linh vô thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi ký ức khó chịu, mọi ước vọng bị “dồn nén” vô hiệu, nhưng kết quả là anh ta tích tụ ngày càng nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn thành bệnh.

Freud phân loại mọi hoạt động tinh thần của mỗi nhân con người được thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã, (Id. Soi); Bản Ngã (ego moi) và Siêu Ngã (superego Surmoi). Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo: Phạm vi của Id là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản thân ta chỉ biết chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, Id có tính chất thú vậy và bản chất của nó là thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Id mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì: “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa”.

Đứa bé sơ sinh là Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id phát triển lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn lên. Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lý khoái lạc, cái Ego bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Ego biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái Ego là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái Id và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Vì vậy Ego thực sự hành động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những thúc giục của cái Id làm cho những thúc giục này phù hợp với tình hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội trừng phạt và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến sự bảo tồn, đều phải tùy thuộc vào những “dồn nén”. Tuy nhiên cuộc đấu tranh giữa cái Ego và Id có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân.

Sau hết, còn một thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh hoạt tinh thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Học trò chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill đã viết:

“Cái Superego là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của cái Superego.

Cũng như cái Id, cái Superego cũng nằm trong vô thức và cả hai cùng luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức và quy tắc cư xử đều nằm trong Superego. Khi ba cái Id và Superego tương đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh phúc. Nếu cái Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái Superego sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ của lương tâm.

Lý thuyết tính dục hay còn gọi là nhục dục (Libido) là một khái niệm khác được ghép chung với Id và do Freud tạo ra. Ông dạy rằng tất cả những xúc cảm của Id đều là hình thức thể hiện của “năng lượng tính dục” (sexual). Thuyết tính dục đã từng được gọi là “cái lõi của phân tâm học”. Mọi sáng tạo văn hóa của con người: nghệ thuật, luật pháp, tôn giáo, vân vân.. đều được coi là sự phát triển của tính dục. Khi nói “năng lực của tính dục” (sexual energy), thì ở đây chữ “tính” (sexual) được dùng theo nghĩa rộng. Ở đứa trẻ bản năng tính dục bộc lộ qua những hành động như mút tay, bú sữa chai và bài tiết. Những năm sau đó năng lượng tính dục có thể được truyền cho người khác qua hôn nhân, mang hình thức một hư hỏng thuộc về “tính” hay được thể hiện qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật, văn chương hay âm nhạc – đó là phương pháp được gọi là “dịch chuyển”. Theo Freud thì bản năng tính dục (sex instinct) là nguồn gốc của mọi công trình sáng tạo vĩ đại nhất.

Thật vậy, Freud đã tuyên bố: “Các bênh tâm thần, không chừa một bệnh nào, đều là những rối loạn của đời sống sinh lý”. Nếu luận thêm, không thể cho rằng bệnh tâm thần là do những cuộc hôn nhân thất bại hay những mối tình lỡ làng gây ra; trái lại có thể tìm thấy dấu vết tất cả những bệnh này ở thời kỳ ấu thơ với các mặc cảm tính dục. Freud đã áp dụng lý thuyết của ông sang lĩnh vực nhân chủng học trong tác phẩm Vật tổ và cấm kỵ. Ông tin rằng ngay tôn giáo cũng chỉ là biểu hiện của mặc cảm tính dục. Sau khi phân tích kỹ lưỡng từng chi tiết hàng trăm trường hợp bệnh nhân đến chữa bệnh, Freud đã nâng bản năng tính dục và thèm khát nhục dục lên thành yếu tố đầu tiên và mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nhân cách con người, đồng thời là nguyên nhân sâu xa của mọi bệnh tâm thần. Đó là một phán đoán mà một số các nhà phân tâm học nổi tiếng khác đã bác bỏ như sẽ nói sau đây.

Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, theo cách nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người vẫn thành công trong việc ngăn trở, không cho “những sức mạnh vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện. Nhưng sự kiểm soát ấy có thể làm cho những con bệnh tâm thần trải qua những giai đoạn xúc cảm bị rối loạn sâu xa. Freud cho công việc chữa bệnh của nhà phân tâm học là “làm bộc lộ và thay thế những dồn nén bằng những hành động phán đoán có thể đưa đến, hoặc sự chấp nhận hoặc sự loại bỏ những gì đã bị khước từ từ trước”. Vì bản chất của sự dồn nén là gây ra sự đau khổ, nên người bệnh thường cố tìm cách ngăn không cho những dồn nén ấy bộc lộ ra ngoài. Sự cố gắng che đậy ấy Freud gọi là “sức đối kháng”. Nhiệm vụ của thầy thuốc là loại bỏ sức đối kháng này, để người bệnh bộc lộ ra cái “dồn nén” kia.

Đời sống hiện đại: Internet và những đánh đổi (GS. Trần Hữu Dũng)

Trong đời sống hiện đại, kết nối với Internet hầu như là một nhu cầu “không thể thiếu” đối với ngày càng nhiều người.  Chúng ta vào Internet vì công việc, vì muốn tìm kiếm thông tin, nhằm thư giản, hoặc để “sinh hoạt xã hội” (chăm sóc Facebook, viết blog). Những công cụ như máy tính điện tử, điện thoại khôn ngoan… quả có giúp ta tăng gia năng suất trong việc làm, liên lạc với nhau nhanh chóng và dễ dàng hơn, và nhiều việc quan trọng khác nữa.  Tuy nhiên, cùng với các lợi ích là một số “mặt trái” của Internet: những trang web dâm ô, xách động bạo lực, nhiều thông tin sai, không thể kiểm chứng, hoặc những đả kích, vu khống cá nhân…

 Nhìn sâu hơn thì Internet đặt ra nhiều sự đánh đổi: bận rộn hơn nhưng kém sâu sắc đi, giao tiếp rộng rãi thêm song cũng hời hợt hơn, nhận nhiều thông tin nhưng cũng bị “giấu” nhiều thông tin.  Sống trong thời đại Internet quả đem lại cho ta nhiều vấn đề cần suy nghĩ.

 Thêm bận rộn nhưng giảm chiều sâu

 Từ vài thập niên qua, những phương tiện “công nghệ số” (máy tính điện tử, điện thoại khôn ngoan…) đã cho chúng ta một cách mới, vô cùng mạnh mẽ, để theo đuổi “tính bận rộn” của mình.  Chúng thường được quảng cáo như giải pháp cho cuộc sống đầy “stress” của xã hội hiện đại. 

 Đắm chìm trong thế giới Internet, chúng ta có thể quan sát “đám đông”, nhưng sự quan sát ấy không đem cho chúng ta “minh triết” (dùng chữ của cố giáo sư Hoàng Ngọc Hiến), nó cho ta sự “khôn lanh”, biết tin này, chuyện nọ… song đó không phải là minh triết sâu sắc. Sự sâu sắc làm giàu thêm liên hệ của chúng ta với đồng loại, cung cấp chất liệu và sự viên mãn cho đời sống.  Chính nó làm phong phú hơn mọi hành động của chúng ta.

 Hiển nhiên, “bận rộn” và “sâu sắc” không luôn luôn là xung khắc.  Nhiều lúc chúng ta có thể nhanh nhẹn quay từ việc này sang việc nọ, nhưng tập trung hoàn toàn vào công việc trước mắt. Chẳng hạn một bác sĩ giải phẩu mỗi ngày có thể mổ từ ca này sang ca khác, song trong ca nào thì ông cũng tập trung chú ý 100% . “Bận rộn” trên “không gian số” thì khác sự bận rộn của một bác sĩ như thế.  Từ màn hình, hàng chục công việc vẫy gọi chúng ta: nào là thư điện tử, nào là bài đang viết, biểu đồ đang xem, bài báo đang đọc, một trận bóng đá trực tuyến, v.v..  Như một đứa trẻ chơi lò cò, chúng ta nhảy từ việc này sang việc nọ. “Công nghệ số” làm tăng năng suất, nhưng chính nó là trở ngại cho sự tập trung liên tục  ̶  một sự tập trung cần thiết cho những phát minh cơ bản, thật có bề sâu.  Như nhà bình luận Mỹ William Powers[1] nhận xét: Sự kết nối qua Internet chính là kẻ thù của sự sâu sắc.

Với thư điện tử, chúng ta có thể liên lạc với bạn bè, thân quyến thường hơn, song hầu hết những “thư” này ngắn hơn, vội hơn, so với thư viết tay (hoặc đánh máy) ngày xưa.  Xu hướng này rất rõ rệt trong giới trẻ:  Họ ngày càng ít dùng thư điện tử  mà chuyển sang nhắn tin qua điện thoại (texting).  Đàng khác, “đối thoại” trên Internet là đối thoại qua ngôn ngữ và hình ảnh… song lắm khi một cái nhìn trong im lặng lại mang nhiều ý nghĩa hơn.

Chúng ta đang dần dần mất đi một giá trị vô cùng to lớn, một lối nghĩ suy, một cách trải nghiệm thời gian.  Ấy là chiều sâu. Chiều sâu của tư tưởng và cảm nhận, chiều sâu trong hành động, và nhất là chiều sâu trong liên hệ giữa chúng ta.  Bởi lẽ một cuộc sống viên mãn không thể thiếu chiều sâu, mất chiều sâu là một mất mát rất lớn. 

Kết nối rộng rãi nhưng mong manh

Nếu bạn có một điện thoại di động, hoặc một máy tính nối kết với Internet, một địa chỉ email, thì bạn có thể tiếp xúc với hàng triệu cá nhân, tổ chức, và ngược lại, hàng triệu cá nhân, tổ chức có thể tiếp xúc với bạn.  Hiện tượng này cho nhiều người ấn tượng là xã hội, thậm chí cả nhân loại, đang kết nối chặt chẽ hơn, hiểu biết nhau hơn.  Có thật thế không?

Mark Granovetter (một nhà xã hội học người Mỹ) phân biệt hai loại liên hệ trong xã hội: “liên hệ mạnh” và “liên hệ yếu”.   Những liên hệ mạnh là những liên hệ gia đình, bạn thân, xóm giềng gần gũi, vững bền, khó cắt, còn những liên hệ yếu là những liên hệ xã giao ngoài mặt, phiến diện, cắt bỏ dễ dàng.  Theo Granovetter, chính những “liên hệ mạnh” mới là căn bản cho “vốn xã hội”, một thành tố quan trọng cho phát triển và tăng trưởng.  Nhìn qua cách phân loại này, Malcolm Gladwell (tác giả của nhiều sách bán chạy nhất ở Mỹ) cho rằng Internet có làm dày đặc thêm liên hệ, nhưng đó là những liên hệ yếu, không phải mạnh. Những liên hệ yếu chẳng phải là hoàn toàn vô ích, nhưng chúng chỉ hữu ích cho những thư giản hời hợt, không thể được dựa vào để động viên, phối hợp để thực hiện những công tác đòi hỏi hi sinh và kiên trì.  Một xã hội gắn kết với nhau bằng những liên hệ yếu là một xã hội không nhiều đoàn kết, nhất là những đoàn kết để hi sinh lâu dài vì sự nghiệp chung.

Một đặc tính nữa của những liên kết dựa trên Internet: Càng chằng chịt liên kết với người khác, chúng ta càng hướng ngoại (trái ngược với hướng về nội tâm của chính chúng ta).  Chúng ta liên lạc thường hơn qua Internet, có những “bạn” trên Facebook mà ta không biết tên thật, sống ở  đâu, chưa từng gặp mặt ngoài đời. Nhiều người bỏ nhiều thời giờ “chăm sóc” trang Facebook của mình hơn là tiếp xúc với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đang sống ngay bên cạnh.  Khi sự liên lạc với người ở một châu lục khác cũng dễ dàng như với người sống bên cạnh thì sự cận kề (không gian hoặc huyết thống) mất đi nhiều ý nghĩa. Chẳng những cuộc sống nội tâm sẽ bị tổn hại, những liên hệ với những người gần gũi ta cũng sẽ bị tổn hại. Trong thế giới Internet, chúng ta có nhiều người quen nhưng ít người thân.

Tính “hướng ngoại” còn ảnh hưởng đến “thang giá trị” mà chúng ta dùng để tự đánh giá: những người có Facebook, có blog, thường tự đáng giá bằng con số “bạn” mà mình có trên Facebook, số người đến xem blog của mình, và số “comment”.

Cũng trong chiều hướng này, Evgeny Morozov[2] cho rằng toàn cầu hóa sẽ làm loãng đi sự quan tâm của trí thức đến những vấn đề của quốc gia họ. Một trí thức thượng thặng của Nga, Trung Quốc, Brazil… chẳng hạn, thường “thân thiết”, trao đổi, cộng tác với đồng nghiệp ờ các đại học, các trung tâm nghiên cứu, ở London, New York, Cambridge, Berkeley..  hơn là với trí thức ở chính quê hương của mình.

Lọc lựa và nặc danh

Oái oăm là trong số những người chỉ trích Internet mạnh mẽ nhất lại là những người đã có những đóng góp nền tảng cho sự phát triển của “không gian ảo”.  Hai tác giả nổi bật là Eli Pariser[3] và Jaron Lanier.[4]

Theo Eli Pariser (cây bút chủ lực của tạp chí Wired  chuyên về công nghệ số), những công cụ tìm kiếm (như Google) mà ai cũng cho là cực kỳ hữu ích để mở mang kiến thức, lại có tác dụng giam hãm người sử dụng trong một thứ “bong bóng” (chữ của Pariser) vô hình. Ông cho biết, khi bạn “Google” một đề tài nào đó thì Google sẽ căn cứ vào sở thích của bạn (mà Google suy đoán qua những tìm kiếm trước đây của bạn) để hiển thị kết quả, và theo thứ tự mà Google đoán là phù hợp với bạn.

Ví dụ: nếu bạn là một người Mỹ có khuynh hướng chính trị bảo thủ (căn cứ vào những bài, những thông tin mà bạn đã tìm qua Google trước đây) thì Google sẽ hiển thị cho riêng bạn những bài, tin, viết theo quan điểm bảo thủ lên đầu kết quả tìm kiếm. Như thế, càng ngày bạn càng chìm sâu trong thế giới của những người bảo thủ: đọc của nhau, mà không được biết gì về các quan điểm khác.[5] Tất nhiên, tình trạng y hệt cũng xảy ra cho những người có tư duy “tiến bộ” (hoặc một chân dung sở thích nào đó mà Google “đoán”, với một công thức bí mật mà công ty này thường xuyên điều chỉnh).

Jaron Lanier, một người tiên phong khác trong ngành “thực tế ảo” (virtual reality) còn mạnh mẽ chỉ trích Internet hơn cả Eli Pariser  Ông nói cách giật gân:  Facebook, Google là những “công ty gián điệp” (theo nghĩa bóng) bởi vì mô hình kinh doanh của họ hoàn toàn dựa vào việc thu thập, sắp xếp, đúc kết, rồi bán những thông tin về mọi mặt của cả tỷ người khắp nơi trên thế giới[6]!  Lanier vạch ra một tệ nạn nữa của Internet, đó là những phản hồi (“comment”) nặc danh.  Vì thế, đi xa hơn Pariser, Lanier cho rằng Internet còn là một “công cụ khủng bố”. Một tác giả xuất hiện trên Internet là lập tức bị một đám đông nặc danh ném đá, chê bai!  Lanier phát hiện một mâu thuẫn nội tại của Internet: nó đe doạ sự tư riêng (thông tin – đúng hay sai – về đời tư, quá khứ của mỗi người đều có thể bị ai đó tung lên Internet) bởi chính tính nặc danh của nó.

Thay lời kết

Không ích lợi gì để đặt câu hỏi: Vậy thì Internet là tốt hay xấu cho đời sống chúng ta?  Nó đã hiện hữu, xu hướng “số hoá” của mọi sinh hoạt là không thể cưỡng.  Cũng không thể kết luận rõ ràng rằng “thế giới ảo” là tốt hay xấu: nó có cả hai mặt, vừa tăng năng suất trong công việc, vừa biến đổi mọi hoạt động của chúng ta. Điều quan trọng mà chúng ta có thể làm được là tìm sự cân bằng giữa “đời sống ảo” (trên Internet) và “đời sống thật”.  Chúng ta không nên quên những người thân, bạn bè, sống chung quanh ta, chúng ta cần dành cho mình những “khoảng lặng”, cố gắng đi vào chiều sâu trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong hành động. “Tiếp cận” thông tin, dù ngày càng phong phú, chẳng bao giờ là đồng nghĩa với minh triết và trải nghiệm.

Về phía những người có trách nhiệm lãnh đạo (nói chung, không chỉ là nhà nước), Morozov[7] đặt ra một danh từ mới “không tưởng không gian ảo” (cyber-utopianism) để gán cho tư duy xem Internet là tâm điểmĐối với những người có tư duy này, mọi việc đều xoay quanh Internet, công nghệ Internet (và tiềm năng của nó) là tâm điểm mọi hoạt động ở bất cứ nơi nào, bất kể môi trường xã hội và lịch sử ra sao. Đó là một lỗi lầm cần tránh.

Trần Hữu Dũng

Dayton
1-1-2013

http://www.viet-studies.info/THDung/THDung_InternetVaDanhDoi.htm

[1] William Powers, 2010, Hamlet’s BlackBerry: Building a Good Life in the Digital Age, New York: Harper.

[2] Evgeny Morozov, 2011, Tne Net Delusion: The Dark Side of Internet Freedom, New York: PublicAffairs

[3] Eli Pariser, 2011, The Filter Bubble: What the Intertnet is Hiding from You, New York: Penguin.  Xem thêm Nicholas Carr, 2008,Is Google Making Us Stupid?“,  Atlantic, tháng 7/8.

[4] Jaron Lanier, 2011, You Are Not a Gadget: A Manifesto, New York: Vintage.   Xem thêm: Ron Rosenbaum, 2013, “What Turned Jaron Lanier Against the Web?“, Smithsonian Magazine, tháng giêng.

[5] Đây cũng là nhược điểm “chết người” của phe bảo thủ ủng hộ Mitt Romney trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua.  Dự đoán của họ hoàn toàn sai lầm vì họ chỉ đọc, chỉ lấy tin từ những nhà báo, nhà bình luận bảo thủ như họ. 

[6] Không chỉ những người có tài khoản với họ (kể cả Gmail) nhưng bất cứ ai đã sử dụng Google hoặc được Facebook của người nào đó nói đến

[7] Sách đã dẫn