Id, Ego, and Superego

http://quangduc.com/khoahoc/04phantamhoc.html

So sánh tâm linh con người với một tảng băng, mà tới tám chín phần mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó, những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản thân mình nữa. Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc. Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người. Freud tuyên bố là chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm linh vô thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi ký ức khó chịu, mọi ước vọng bị “dồn nén” vô hiệu, nhưng kết quả là anh ta tích tụ ngày càng nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn thành bệnh.

Freud phân loại mọi hoạt động tinh thần của mỗi nhân con người được thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã, (Id. Soi); Bản Ngã (ego moi) và Siêu Ngã (superego Surmoi). Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo: Phạm vi của Id là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản thân ta chỉ biết chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, Id có tính chất thú vậy và bản chất của nó là thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Id mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì: “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa”.

Đứa bé sơ sinh là Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id phát triển lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn lên. Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lý khoái lạc, cái Ego bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Ego biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái Ego là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái Id và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Vì vậy Ego thực sự hành động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những thúc giục của cái Id làm cho những thúc giục này phù hợp với tình hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội trừng phạt và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến sự bảo tồn, đều phải tùy thuộc vào những “dồn nén”. Tuy nhiên cuộc đấu tranh giữa cái Ego và Id có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân.

Sau hết, còn một thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh hoạt tinh thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Học trò chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill đã viết:

“Cái Superego là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của cái Superego.

Cũng như cái Id, cái Superego cũng nằm trong vô thức và cả hai cùng luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức và quy tắc cư xử đều nằm trong Superego. Khi ba cái Id và Superego tương đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh phúc. Nếu cái Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái Superego sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ của lương tâm.

Lý thuyết tính dục hay còn gọi là nhục dục (Libido) là một khái niệm khác được ghép chung với Id và do Freud tạo ra. Ông dạy rằng tất cả những xúc cảm của Id đều là hình thức thể hiện của “năng lượng tính dục” (sexual). Thuyết tính dục đã từng được gọi là “cái lõi của phân tâm học”. Mọi sáng tạo văn hóa của con người: nghệ thuật, luật pháp, tôn giáo, vân vân.. đều được coi là sự phát triển của tính dục. Khi nói “năng lực của tính dục” (sexual energy), thì ở đây chữ “tính” (sexual) được dùng theo nghĩa rộng. Ở đứa trẻ bản năng tính dục bộc lộ qua những hành động như mút tay, bú sữa chai và bài tiết. Những năm sau đó năng lượng tính dục có thể được truyền cho người khác qua hôn nhân, mang hình thức một hư hỏng thuộc về “tính” hay được thể hiện qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật, văn chương hay âm nhạc – đó là phương pháp được gọi là “dịch chuyển”. Theo Freud thì bản năng tính dục (sex instinct) là nguồn gốc của mọi công trình sáng tạo vĩ đại nhất.

Thật vậy, Freud đã tuyên bố: “Các bênh tâm thần, không chừa một bệnh nào, đều là những rối loạn của đời sống sinh lý”. Nếu luận thêm, không thể cho rằng bệnh tâm thần là do những cuộc hôn nhân thất bại hay những mối tình lỡ làng gây ra; trái lại có thể tìm thấy dấu vết tất cả những bệnh này ở thời kỳ ấu thơ với các mặc cảm tính dục. Freud đã áp dụng lý thuyết của ông sang lĩnh vực nhân chủng học trong tác phẩm Vật tổ và cấm kỵ. Ông tin rằng ngay tôn giáo cũng chỉ là biểu hiện của mặc cảm tính dục. Sau khi phân tích kỹ lưỡng từng chi tiết hàng trăm trường hợp bệnh nhân đến chữa bệnh, Freud đã nâng bản năng tính dục và thèm khát nhục dục lên thành yếu tố đầu tiên và mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nhân cách con người, đồng thời là nguyên nhân sâu xa của mọi bệnh tâm thần. Đó là một phán đoán mà một số các nhà phân tâm học nổi tiếng khác đã bác bỏ như sẽ nói sau đây.

Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, theo cách nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người vẫn thành công trong việc ngăn trở, không cho “những sức mạnh vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện. Nhưng sự kiểm soát ấy có thể làm cho những con bệnh tâm thần trải qua những giai đoạn xúc cảm bị rối loạn sâu xa. Freud cho công việc chữa bệnh của nhà phân tâm học là “làm bộc lộ và thay thế những dồn nén bằng những hành động phán đoán có thể đưa đến, hoặc sự chấp nhận hoặc sự loại bỏ những gì đã bị khước từ từ trước”. Vì bản chất của sự dồn nén là gây ra sự đau khổ, nên người bệnh thường cố tìm cách ngăn không cho những dồn nén ấy bộc lộ ra ngoài. Sự cố gắng che đậy ấy Freud gọi là “sức đối kháng”. Nhiệm vụ của thầy thuốc là loại bỏ sức đối kháng này, để người bệnh bộc lộ ra cái “dồn nén” kia.

Đời sống hiện đại: Internet và những đánh đổi (GS. Trần Hữu Dũng)

Trong đời sống hiện đại, kết nối với Internet hầu như là một nhu cầu “không thể thiếu” đối với ngày càng nhiều người.  Chúng ta vào Internet vì công việc, vì muốn tìm kiếm thông tin, nhằm thư giản, hoặc để “sinh hoạt xã hội” (chăm sóc Facebook, viết blog). Những công cụ như máy tính điện tử, điện thoại khôn ngoan… quả có giúp ta tăng gia năng suất trong việc làm, liên lạc với nhau nhanh chóng và dễ dàng hơn, và nhiều việc quan trọng khác nữa.  Tuy nhiên, cùng với các lợi ích là một số “mặt trái” của Internet: những trang web dâm ô, xách động bạo lực, nhiều thông tin sai, không thể kiểm chứng, hoặc những đả kích, vu khống cá nhân…

 Nhìn sâu hơn thì Internet đặt ra nhiều sự đánh đổi: bận rộn hơn nhưng kém sâu sắc đi, giao tiếp rộng rãi thêm song cũng hời hợt hơn, nhận nhiều thông tin nhưng cũng bị “giấu” nhiều thông tin.  Sống trong thời đại Internet quả đem lại cho ta nhiều vấn đề cần suy nghĩ.

 Thêm bận rộn nhưng giảm chiều sâu

 Từ vài thập niên qua, những phương tiện “công nghệ số” (máy tính điện tử, điện thoại khôn ngoan…) đã cho chúng ta một cách mới, vô cùng mạnh mẽ, để theo đuổi “tính bận rộn” của mình.  Chúng thường được quảng cáo như giải pháp cho cuộc sống đầy “stress” của xã hội hiện đại. 

 Đắm chìm trong thế giới Internet, chúng ta có thể quan sát “đám đông”, nhưng sự quan sát ấy không đem cho chúng ta “minh triết” (dùng chữ của cố giáo sư Hoàng Ngọc Hiến), nó cho ta sự “khôn lanh”, biết tin này, chuyện nọ… song đó không phải là minh triết sâu sắc. Sự sâu sắc làm giàu thêm liên hệ của chúng ta với đồng loại, cung cấp chất liệu và sự viên mãn cho đời sống.  Chính nó làm phong phú hơn mọi hành động của chúng ta.

 Hiển nhiên, “bận rộn” và “sâu sắc” không luôn luôn là xung khắc.  Nhiều lúc chúng ta có thể nhanh nhẹn quay từ việc này sang việc nọ, nhưng tập trung hoàn toàn vào công việc trước mắt. Chẳng hạn một bác sĩ giải phẩu mỗi ngày có thể mổ từ ca này sang ca khác, song trong ca nào thì ông cũng tập trung chú ý 100% . “Bận rộn” trên “không gian số” thì khác sự bận rộn của một bác sĩ như thế.  Từ màn hình, hàng chục công việc vẫy gọi chúng ta: nào là thư điện tử, nào là bài đang viết, biểu đồ đang xem, bài báo đang đọc, một trận bóng đá trực tuyến, v.v..  Như một đứa trẻ chơi lò cò, chúng ta nhảy từ việc này sang việc nọ. “Công nghệ số” làm tăng năng suất, nhưng chính nó là trở ngại cho sự tập trung liên tục  ̶  một sự tập trung cần thiết cho những phát minh cơ bản, thật có bề sâu.  Như nhà bình luận Mỹ William Powers[1] nhận xét: Sự kết nối qua Internet chính là kẻ thù của sự sâu sắc.

Với thư điện tử, chúng ta có thể liên lạc với bạn bè, thân quyến thường hơn, song hầu hết những “thư” này ngắn hơn, vội hơn, so với thư viết tay (hoặc đánh máy) ngày xưa.  Xu hướng này rất rõ rệt trong giới trẻ:  Họ ngày càng ít dùng thư điện tử  mà chuyển sang nhắn tin qua điện thoại (texting).  Đàng khác, “đối thoại” trên Internet là đối thoại qua ngôn ngữ và hình ảnh… song lắm khi một cái nhìn trong im lặng lại mang nhiều ý nghĩa hơn.

Chúng ta đang dần dần mất đi một giá trị vô cùng to lớn, một lối nghĩ suy, một cách trải nghiệm thời gian.  Ấy là chiều sâu. Chiều sâu của tư tưởng và cảm nhận, chiều sâu trong hành động, và nhất là chiều sâu trong liên hệ giữa chúng ta.  Bởi lẽ một cuộc sống viên mãn không thể thiếu chiều sâu, mất chiều sâu là một mất mát rất lớn. 

Kết nối rộng rãi nhưng mong manh

Nếu bạn có một điện thoại di động, hoặc một máy tính nối kết với Internet, một địa chỉ email, thì bạn có thể tiếp xúc với hàng triệu cá nhân, tổ chức, và ngược lại, hàng triệu cá nhân, tổ chức có thể tiếp xúc với bạn.  Hiện tượng này cho nhiều người ấn tượng là xã hội, thậm chí cả nhân loại, đang kết nối chặt chẽ hơn, hiểu biết nhau hơn.  Có thật thế không?

Mark Granovetter (một nhà xã hội học người Mỹ) phân biệt hai loại liên hệ trong xã hội: “liên hệ mạnh” và “liên hệ yếu”.   Những liên hệ mạnh là những liên hệ gia đình, bạn thân, xóm giềng gần gũi, vững bền, khó cắt, còn những liên hệ yếu là những liên hệ xã giao ngoài mặt, phiến diện, cắt bỏ dễ dàng.  Theo Granovetter, chính những “liên hệ mạnh” mới là căn bản cho “vốn xã hội”, một thành tố quan trọng cho phát triển và tăng trưởng.  Nhìn qua cách phân loại này, Malcolm Gladwell (tác giả của nhiều sách bán chạy nhất ở Mỹ) cho rằng Internet có làm dày đặc thêm liên hệ, nhưng đó là những liên hệ yếu, không phải mạnh. Những liên hệ yếu chẳng phải là hoàn toàn vô ích, nhưng chúng chỉ hữu ích cho những thư giản hời hợt, không thể được dựa vào để động viên, phối hợp để thực hiện những công tác đòi hỏi hi sinh và kiên trì.  Một xã hội gắn kết với nhau bằng những liên hệ yếu là một xã hội không nhiều đoàn kết, nhất là những đoàn kết để hi sinh lâu dài vì sự nghiệp chung.

Một đặc tính nữa của những liên kết dựa trên Internet: Càng chằng chịt liên kết với người khác, chúng ta càng hướng ngoại (trái ngược với hướng về nội tâm của chính chúng ta).  Chúng ta liên lạc thường hơn qua Internet, có những “bạn” trên Facebook mà ta không biết tên thật, sống ở  đâu, chưa từng gặp mặt ngoài đời. Nhiều người bỏ nhiều thời giờ “chăm sóc” trang Facebook của mình hơn là tiếp xúc với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đang sống ngay bên cạnh.  Khi sự liên lạc với người ở một châu lục khác cũng dễ dàng như với người sống bên cạnh thì sự cận kề (không gian hoặc huyết thống) mất đi nhiều ý nghĩa. Chẳng những cuộc sống nội tâm sẽ bị tổn hại, những liên hệ với những người gần gũi ta cũng sẽ bị tổn hại. Trong thế giới Internet, chúng ta có nhiều người quen nhưng ít người thân.

Tính “hướng ngoại” còn ảnh hưởng đến “thang giá trị” mà chúng ta dùng để tự đánh giá: những người có Facebook, có blog, thường tự đáng giá bằng con số “bạn” mà mình có trên Facebook, số người đến xem blog của mình, và số “comment”.

Cũng trong chiều hướng này, Evgeny Morozov[2] cho rằng toàn cầu hóa sẽ làm loãng đi sự quan tâm của trí thức đến những vấn đề của quốc gia họ. Một trí thức thượng thặng của Nga, Trung Quốc, Brazil… chẳng hạn, thường “thân thiết”, trao đổi, cộng tác với đồng nghiệp ờ các đại học, các trung tâm nghiên cứu, ở London, New York, Cambridge, Berkeley..  hơn là với trí thức ở chính quê hương của mình.

Lọc lựa và nặc danh

Oái oăm là trong số những người chỉ trích Internet mạnh mẽ nhất lại là những người đã có những đóng góp nền tảng cho sự phát triển của “không gian ảo”.  Hai tác giả nổi bật là Eli Pariser[3] và Jaron Lanier.[4]

Theo Eli Pariser (cây bút chủ lực của tạp chí Wired  chuyên về công nghệ số), những công cụ tìm kiếm (như Google) mà ai cũng cho là cực kỳ hữu ích để mở mang kiến thức, lại có tác dụng giam hãm người sử dụng trong một thứ “bong bóng” (chữ của Pariser) vô hình. Ông cho biết, khi bạn “Google” một đề tài nào đó thì Google sẽ căn cứ vào sở thích của bạn (mà Google suy đoán qua những tìm kiếm trước đây của bạn) để hiển thị kết quả, và theo thứ tự mà Google đoán là phù hợp với bạn.

Ví dụ: nếu bạn là một người Mỹ có khuynh hướng chính trị bảo thủ (căn cứ vào những bài, những thông tin mà bạn đã tìm qua Google trước đây) thì Google sẽ hiển thị cho riêng bạn những bài, tin, viết theo quan điểm bảo thủ lên đầu kết quả tìm kiếm. Như thế, càng ngày bạn càng chìm sâu trong thế giới của những người bảo thủ: đọc của nhau, mà không được biết gì về các quan điểm khác.[5] Tất nhiên, tình trạng y hệt cũng xảy ra cho những người có tư duy “tiến bộ” (hoặc một chân dung sở thích nào đó mà Google “đoán”, với một công thức bí mật mà công ty này thường xuyên điều chỉnh).

Jaron Lanier, một người tiên phong khác trong ngành “thực tế ảo” (virtual reality) còn mạnh mẽ chỉ trích Internet hơn cả Eli Pariser  Ông nói cách giật gân:  Facebook, Google là những “công ty gián điệp” (theo nghĩa bóng) bởi vì mô hình kinh doanh của họ hoàn toàn dựa vào việc thu thập, sắp xếp, đúc kết, rồi bán những thông tin về mọi mặt của cả tỷ người khắp nơi trên thế giới[6]!  Lanier vạch ra một tệ nạn nữa của Internet, đó là những phản hồi (“comment”) nặc danh.  Vì thế, đi xa hơn Pariser, Lanier cho rằng Internet còn là một “công cụ khủng bố”. Một tác giả xuất hiện trên Internet là lập tức bị một đám đông nặc danh ném đá, chê bai!  Lanier phát hiện một mâu thuẫn nội tại của Internet: nó đe doạ sự tư riêng (thông tin – đúng hay sai – về đời tư, quá khứ của mỗi người đều có thể bị ai đó tung lên Internet) bởi chính tính nặc danh của nó.

Thay lời kết

Không ích lợi gì để đặt câu hỏi: Vậy thì Internet là tốt hay xấu cho đời sống chúng ta?  Nó đã hiện hữu, xu hướng “số hoá” của mọi sinh hoạt là không thể cưỡng.  Cũng không thể kết luận rõ ràng rằng “thế giới ảo” là tốt hay xấu: nó có cả hai mặt, vừa tăng năng suất trong công việc, vừa biến đổi mọi hoạt động của chúng ta. Điều quan trọng mà chúng ta có thể làm được là tìm sự cân bằng giữa “đời sống ảo” (trên Internet) và “đời sống thật”.  Chúng ta không nên quên những người thân, bạn bè, sống chung quanh ta, chúng ta cần dành cho mình những “khoảng lặng”, cố gắng đi vào chiều sâu trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong hành động. “Tiếp cận” thông tin, dù ngày càng phong phú, chẳng bao giờ là đồng nghĩa với minh triết và trải nghiệm.

Về phía những người có trách nhiệm lãnh đạo (nói chung, không chỉ là nhà nước), Morozov[7] đặt ra một danh từ mới “không tưởng không gian ảo” (cyber-utopianism) để gán cho tư duy xem Internet là tâm điểmĐối với những người có tư duy này, mọi việc đều xoay quanh Internet, công nghệ Internet (và tiềm năng của nó) là tâm điểm mọi hoạt động ở bất cứ nơi nào, bất kể môi trường xã hội và lịch sử ra sao. Đó là một lỗi lầm cần tránh.

Trần Hữu Dũng

Dayton
1-1-2013

http://www.viet-studies.info/THDung/THDung_InternetVaDanhDoi.htm

[1] William Powers, 2010, Hamlet’s BlackBerry: Building a Good Life in the Digital Age, New York: Harper.

[2] Evgeny Morozov, 2011, Tne Net Delusion: The Dark Side of Internet Freedom, New York: PublicAffairs

[3] Eli Pariser, 2011, The Filter Bubble: What the Intertnet is Hiding from You, New York: Penguin.  Xem thêm Nicholas Carr, 2008,Is Google Making Us Stupid?“,  Atlantic, tháng 7/8.

[4] Jaron Lanier, 2011, You Are Not a Gadget: A Manifesto, New York: Vintage.   Xem thêm: Ron Rosenbaum, 2013, “What Turned Jaron Lanier Against the Web?“, Smithsonian Magazine, tháng giêng.

[5] Đây cũng là nhược điểm “chết người” của phe bảo thủ ủng hộ Mitt Romney trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua.  Dự đoán của họ hoàn toàn sai lầm vì họ chỉ đọc, chỉ lấy tin từ những nhà báo, nhà bình luận bảo thủ như họ. 

[6] Không chỉ những người có tài khoản với họ (kể cả Gmail) nhưng bất cứ ai đã sử dụng Google hoặc được Facebook của người nào đó nói đến

[7] Sách đã dẫn

Lòng chính trực

Integrity

Integrity is the amount that your words, actions, and beliefs line up with one another.

As a teacher, I witness my students’ lack of integrity every day. When they misbehave, I follow our classroom procedures to reprimand them. They almost always say, “I’m sorry.” However, I’m not sure they really are. Often, their words don’t really line up with their subsequent actions. There’s an integrity problem.

I’ve heard that integrity is “being the same person all the time” – no matter who else you’re around or what situation you find yourself in. “It’s who you are when you’re alone.”These definitions are centered around “consistency” which is also what I was taught in my Leadership Studies @ the College of Biblical Studies:

Integrity is the amount that your words, actions, and beliefs line up with one another – it’s how consistent you are in each of these areas.

Integrity is the “white” section.

Where our words, actions, and beliefs all agree with one another.


Here’s what it looks like when someone has a lot of integrity:


The first type of integrity problem is that of the Liar:

People lie. Sometimes we can do the right things and believe the right things, but peer pressure (or some other pressure) causes us to lie in the moment. (I guess it also works the other way – We can believe the wrong things and do the wrong things, but lie to make ourselves look better.) When we lie, we compromise our integrity. Even the “little white lie” can be dangerous. Each time we lie (no matter how small), we make ourselves more comfortable with lying. We must also remember that others are watching us. When the phone rings and a 3yr-old hears daddy say, “Tell them I’m not here,” he is learning something from his daddy.


The second type of integrity inconsistency is that of the Coward.

The coward says what he believes, but just won’t actually take any action. He’s too scared or too busy to follow through. I’ve certainly had this problem. I believe I should do a lot of things and even talk about doing them, but often get too scared to actually take the necessary steps to move forward. It easy to say that I’m just too busy, but ultimately, maybe it really is just simple fear that paralyzes us all.


The third type of integrity inconsistency is that of the Politician:

The politician will say (words) and do (actions) whatever it takes to get what he wants regardless of his own values or beliefs. He might have great beliefs, but they don’t have any deep roots. He is willing to compromise them at the smallest temptation. In general, he is simply out to fulfill his own desires regardless of anyone else. He is a dangerous person to be around.


The final type of integrity problem is the most inconsistent. You never know what you’re gonna get with these guys. They are often out of touch with reality and clueless about themselves. They have no integrity at all. (At least with the others, there are 2 of the three which line up. You might be able to predict something based on those two areas.) With the final type, there’s no predicting anything.

Notice that there is no integrity(white area) at all.

I hope my little exploration of integrity has been helpful. This information is all stuff I learned from my Biblical Leadership classes at the College of Biblical Studies.

 

Wholeness Of Body Mind and SpiritIntegrity and Success

personal integrity has to do with an alignment of what you believe, what you think and what you do are in alignment.  Many people would criticize this view as it leaves out the morality. Yet if you read through the Standford philosophy descriptions you will see that they explain that integrity is not always a virtue like honesty or morality.  and this is the challenge to balance the alignment with the morality you have and that is a part of who you are.

 

“Hồi ký Hillary”

(Trích) “3 thành phần cốt lõi của bất kỳ xã hội văn minh nào:  một bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả, một nền kinh tế tự do và một xã hội dân sự đầy sức sống. Bên cạnh thị trường và bộ máy nhà nước, chính mọi thứ tồn tại trong thành phần thứ ba này làm cho cuộc sống của chúng ta đáng để sống hơn: gia đình, niềm tin, tổ chức tình nguyện, nghệ thuật và văn hóa. Chẳng hề có một thể chế nhân loại hoàn hảo, không thể có một thị trường hoàn hảo ngoại trừ trong các lý thuyết trừu tượng của các nhà kinh tế học. Chẳng có một bộ máy nhà nước hoàn hảo ngoại trừ trong giấc mơ của các nhà lãnh đạo chính trị. Và cũng không có một xã hội hoàn hảo. Chúng ta phải đối diện với con người như chính bản chất con người. “

Một bài học mà tôi đã và đang học từng ngày.

Câu chuyện lớp trưởng

Bài viết của anh Trần Đình Ngân từ nước Đức về chuyện “lớp trưởng” của con trẻ gợi mở nhiều điều đáng suy nghĩ về nền giáo dục của nước nhà. Một câu chuyện nhỏ, nhiều ý nghĩa, rất đáng đọc…

Tôi có cháu gái đằng vợ tên là Thanh Hòa. Từ ngày học mẫu giáo, cháu vốn khoẻ mạnh, cứng cáp và thông minh. Khi cả bọn cùng lứa với kéo nhau lên lớp 1 trường Phan Phù Tiên, quận Thanh Xuân (Hà Nội), Hòa đương nhiên vẫn là đầu đàn, là lớp trưởng.

Gặp nhau năm Hòa lên lớp 2, vẫn với thành tích học tập tốt, vẫn lớp trưởng, qùa thưởng dịp đó rất to. Vui chuyện, hỏi cháu về nhiệm vụ lớp trưởng, Hòa bẽn lẽn: nào hô các bạn đứng dậy chào thầy cô, nào lo trực nhật, lau bảng, nhắc các bạn giữ trật tự trong lớp… nhiều lắm!

-  Thế khi gặp các bạn ẩu đả, nghịch ngợm, chế diễu nhau ngoái lớp thì làm sao?- Bố Hòa hỏi chen vào.

- Thì báo cho cô chủ nhiệm biết, ạ.

- Thế lớp trưởng mắc khuyết điểm, có bạn nào mách cho cô giáo không?

- Có mà dám!

Nghe cháu trả lời, cả nhà nhìn nhau, lặng người, cười.

*

Phương Hiền, con gái tôi, học lớp 2 trường Friedrich-Reimann-Grundschule. Cô chủ nhiệm là bà giáo R.Lipka.

Đã vài lần gặp gỡ nên tại buổi họp phụ huynh đầu năm, từ ngoài cửa, bà đã tươi cười chào: “Lần này, ông có ý kiến gì góp cho lớp đây? Chúng ta có một giờ để trò chuyện cơ đấy!”.

Khi đến lượt trao đổi trực tiếp, tôi hỏi: “Thưa bà, lớp 2A, cháu nào được chọn là lớp trưởng?”(cũng phải nói thêm do khả năng tiếng Đức mà tôi đã dùng từ “lớp trưởng” theo nghĩa hiểu của tiếng Nga, hoặc tiếng Hán Ban trưởng mà người Việt ta lâu nay vẫn hay dùng).

Thoáng một chút trầm ngâm, bà R.Lipka vui vẻ nói: “Tôi nghĩ là tôi đã hiểu câu hỏi của ông. Vì qua Phương Hiền được biết, ông từng là một đồng nghiệp. Lớp chúng tôi không có học sinh nào được chọn làmObmann hayChef cả. Ở tuổi cấp một, chúng còn qúa bé để phải chịụ thêm trách nhiệm về hành vi của một bạn khác, dù chỉ là nhắc nhở hoặc để ý rồi trình báo với thầy cô. Nếu phải chịu trách nhiệm thêm về một bạn khác, đứa trẻ dễ ngộ nhận nó có thêm quyền lực và ngược lại đứa bị giám sát  sẽ có cảm giác yếm thế, lệ thuộc. Tất nhiên chữ “nếu” chỉ là hãn hữu, nhưng dù 1% chúng tôi cũng không cho phép xảy ra. Tôi nhận thêm lương giáo viên chủ nhiệm để chịu tòan bộ trách nhiệm về họat động của học sinh trong thời gian học tại trường. Trong lớp, mọi em đều được cô giáo phân công trách nhiệm với lớp như nhau”.

Rồi bà giáo hơi mỉm cười, hỏi: “Theo ông, khi các vị phu huynh đều đóng phần thuế học cho con bằng nhau, ông có chấp nhận  khi con ông bạn hàng xóm tự nhiên lại là “trưởng” của con mình không? Tất cả các vị phụ huynh của chúng tôi đều không chấp nhận, họ đòi hỏi sự công bằng. Mới vào lớp 1, lớp 2 mà đã có đứa được là “sỹ quan”, đứa là “lính” ư?  Xin ông nhớ rằng, dù có tạo ra được một thủ lĩnh thì chúng ta đã đồng thời tạo ra một loạt những đứa nhút nhát và a dua, phụ thuộc thủ lĩnh. Đấy là chưa kể đứa trẻ – được tin cậy kia có nguy cơ bị nhiễm thêm thói xấu: nhòm ngó, mách lẻo, chỉ điểm… Giai đoạn đầu giáo dục cấp một, giúp hình thành chứ không nên định hình tính cách của trẻ.

R.Lipka liếc nhìn đồng hồ: “Giải đáp câu hỏi như vậy có đúng ý ông?”.

Tôi thành thật trả lời rằng rất muốn được nghe bà nói tiếp. Bà cười hiền hậu: “Tất nhiên, đề tài này phải có kết luận! Ông nên biết, khi làm đơn xin tiếp tục nghề dạy tiểu học, tôi đã bảo vệ chính đề tài này tại  Hội đồng Phổ thông trung học. Tôi hiểu ngay câu hỏi của ông, vì chính chúng tôi cũng đã qua thời kỳ chuyển hoá Đông - Tây về giáo dục!”.

*

Từ năm lớp 5, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm với lớp vẫn nặng nề như thế. Nhưng do học sinh đã lớn lên, cứng cáp hơn, nề nếp sinh hoạt, tư duy đa dạng nên trong tổ chức của lớp có thêm một chức danh là Klassensprecher. (Xin dịch là “Phát ngôn viên của lớp”).

Vì là  chức danh nên nhất định Klassensprecher phải do lớp bầu với đa số tín nhiệm (không cần sự có mặt của các thầy cô).

Mọi học sinh trong lớp đều có quyền tự ứng cử họặc vận động bè bạn bỏ phiếu cho mình. Klassensprecher là cầu nối chỉ truyền đạt những thông tin được các bạn nhờ chuyển đến thầy cô hoặc ngược lại, không được truyền những thông tin cá nhân không được nhờ. (Nếu vi phạm bị coi là mách lẻo hoặc xâm phạm đời tư!).

Đề tài “lớp trưởng” tưởng chỉ là một bài học có tính giáo dục, làm thay đổi tư duy bảo thủ của một nhà giáo cổ hủ, giáo điều như tôi.

Không ngờ, 5 năm sau, khi Phương Hiền vào học lớp 7, tôi lại được chứng kiến sự dân chủ, công bằng và rất giáo dục trong môi trường đào tạo của con mình qua đề tài đó.

Đây là cảm xúc chính để tôi kể lại câu chuyện cho bạn đọc hôm nay.

Học kỳ hai của lớp 7B trường trung học chuyên Charles-Darwin-Oberschule (Gymnasium), quận Trung tâm - Berlin.

Chiều nay, Phương Hiền tỏ ra đăm chiêu, ngồi cắm cúi viết. Thấy con bức xúc, tôi hỏi thì được biết: Jonoar phát ngôn viên lớp 7B phải theo mẹ hồi hương về Cu-ba nên lớp cần bầu một người thay thế. Đã có ứng viên là Magir – một bạn gái da mầu gốc Phi. Magir thành thạo tiếng Pháp – môn ngoại ngữ thứ hai mà nhiều bạn học còn yếu. Magir có năng khiếu bẩm sinh về hoạt động thể dục thể thao. Lời cam kết trước các bạn khi đề nghị bỏ phiếu cho mình của Magir là “Tôi sẽ liên hệ để có sự giúp đỡ của cô giáo dạy tiếng Pháp. Mỗi tuần lớp sẽ có một buổi hội thoại chủ đề Pháp ngữ tại Thư viện quận Trung tâm. Năm nay, trong tuần ngoại khóa, nếu các bạn ở lớp đồng tình, được cô chủ nhiệm chấp nhận, lớp sẽ chọn Paris là địa điểm đi tham quan dã ngoại giáo dục. Tôi xin chuẩn bị đề cương tham quan bằng tiếng Pháp và in gửi trước cho các bạn. Bản thân tôi cam kết sẽ hợp tác với các bạn trong lớp, nâng điểm tóan lên 2,5 để điểm trung bình các môn của tôi trong năm là 2,5. Ngoài ra, về thể dục thể thao, tất nhiên học kỳ này, lớp ta phải có một tờ thông báo nóng hổi WM 2006 tại Đức”.

Đọc tờ rơi cam kết của ứng viên, tôi hỏi con gái:

- Magir như vậy, Phương Hiền sẽ thế nào?

- Con thích được thử sức. Trường con chưa có bạn người Việt nào nhận chức danh này. Nhiều bạn trong lớp đề cử con. Chúng nó bảo con cần viết Rede Wahl versprechen (lời cam kết của ứng viên chức danh phát ngôn viên).

- Tự con đánh gía về mình thế nào?

- Con tự  tin. Con có học lực tốt nên có thể giúp đỡ được nhiều bạn về môn Toán, Đức văn, Điạ lý, Anh văn.

Còn môn lịch sử, con có thể có thêm sự giúp đỡ của bố để giúp lại các bạn.

- Hoạt động ngoại khóa?

- Tất nhiên chọn Paris làm tuần tham quan giáo dục là tuyệt vời. Chính Magir có thể cộng tác với con và các bạn trong nhóm Tây Âu học. Có hai ngày cắm trại dã ngoại, cô giáo rất ủng hộ việc đi chơi mỏ muối Eisenach và thăm nơi Hitler đã cất giấu hàng vạn bức tranh quý của các bảo tàng chúng cướp được trong chiến tranh.

Ngập ngừng một chút, Phương Hiền thổ lộ thêm một “chi tiết tranh cử” làm tôi bật cười: “Bố ạ,  cả lớp con bỏ phiếu kín về món ăn khoái khẩu nhất – 83% phiếu kín khi mở ra ghi là “PHO”. Các bạn sẽ góp tiền, nhờ bố giúp con, nói chú Hoàng chuẩn bị trước, một hai lần vào thứ 7 nào đấy, cả lớp đến  ăn. Sẽ rất vui phải không bố?

Chuyện “lớp trưởng” đã đến đoạn kết. Hình ảnh các ứng viên tổng thống Mỹ dốc hết trí tuệ (kéo theo cả vợ con) để thu phục nhân tâm cử tri Mỹ trong các chiến dịch tranh cử cam go, công bằng cứ hiện lên trong óc tôi.

Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder… cho đất nước? Lớp 7B của con gái tôi, liệu mai này có ra đời những thủ lĩnh chân chính từ Klassenspecher?

*

Cháu gái Thanh Hòa kể cả mẫu giáo - đến nay đã 11 năm làm lớp trưởng. Tôi thầm hỏi tương lai của “lớp trưởng chuyên nghiệp” sẽ ra sao? Có “nghề lớp trưởng” rồi, sẽ giúp  cho cháu gái tôi có được lợi thế gì khi các kỳ thi sắp tới?!

(Viết nhân khai giảng năm học 2009-2010)

Trần Đình Ngân (Đức)
Vietnamnet

 http://dantri.com.vn/Print-348708.htm

Hoc thuyết gắn bó

http://www.vietpsy.com/2011/12/vi-sao-nang-la-hoan-thu-giai-ma-cac.html

Vì sao con người luôn khao khát được yêu thương? Con người có thể sống không cần tình thương? Năm 1969, nhà nghiên cứu John Bowly giới thiệu Học thuyết Gắn bó (Attachment theory). Bowly cho rằng, trải qua giai đoạn tiến hóa, loài người đã phát triển nỗi sợ hãi cô đơn một cách bản năng, đặc biệt là khi sống trong những nơi lạ lẫm, tối tăm, nguy hiểm hay khi chúng ta mệt mỏi, bị thương hay đau ốm. Nỗi sợ hãi này khiến chúng ta thèm khát sự bảo vệ và chăm sóc từ người khác, nhất là những người quan tâm đến sự tồn tại và phát triển của chúng ta. Nỗi thèm khát này đặc biệt được thể hiện rõ ràng trong những năm tháng đầu đời. Một ví dụ thường thấy là trẻ sơ sinh có thể dùng bàn tay bấu víu vào ngón tay của người chăm sóc. Cách phát triển Gắn bó phát triển trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng đến thái độ trong việc thiết lập các mối quan hệ xã hội (đồng nghiệp, bạn bè, v.v.) và quan hệ tình cảm của đứa bé trong quãng đời sau này.

Năm 1970, nhà nghiên cứu Mary Ainsworth giới thiệu “Tình huống kỳ lạ” (The strange situation) nhằm phân loại các kiểu gắn bó (attachment style) trong mối quan hệ giữa mẹ và bé. Đầu tiên, người mẹ (hay người nuôi dưỡng chính của đứa bé – primary care takers) hiện diện trong phòng khi bé đang chơi. Sau đó, người mẹ được yêu cầu rời khỏi phòng và quay lại phòng sau 20 phút. Dựa vào quan sát thái độ của đứa bé trong tình huống này, các nhà nghiên cứu đã phân loại được ba dạng gắn bó như sau:

  • Dạng bền chặt (secured attachment): đứa bé khóc khi người mẹ rời khỏi phòng nhưng nhanh chóng vui vẻ khi người mẹ quay trở lại.
  • Dạng trốn tránh (avoidant attachment): đứa bé không khóc khi người mẹ rời khỏi phòng và thể hiện thái độ không quan tâm khi người mẹ trở lại.
  • Dạng đối lập (anxious-ambivalent attachment): đứa bé tỏ ra rất lo lắng khi người mẹ bỏ đi và thể hiện hành động mâu thuẫn khi người mẹ trở lại, bé có thể cười, sau đó đánh hay tỏ thái độ khó chịu với mẹ.

Theo nghiên cứu, có khoảng 50% trẻ em thuộc dạng bền chặt, 35% thuộc dạng trốn tránh và 15% thuộc dạng đối lập.

Cách dạy dỗ và thời gian gần gũi với bé, đặc biệt là trong hai năm đầu đời, chính là nguyên nhân tạo nên các dạng gắn bó khác nhau. Nếu bố mẹ dành nhiều thời gian gần gũi trẻ, hẳn nhiên đứa bé sẽ phát triển dạng bền chặt. Nếu bố mẹ không dành nhiều thời gian gần gũi, đứa bé sẽ phát triển dạng trốn tránh. Nếu bé được chăm sóc bởi nhiều người khác nhau, bé sẽ phát triển dạng đối lập (vì ngay chính bản thân đứa trẻ cũng trở nên lẫn lộn và không chắc chắn về việc ai mới là người chăm sóc thật sự).

Ngoài yếu tố sự chăm sóc từ gia đình nắm vai trò cực kỳ quan trọng trong những năm tháng đầu đời, các yếu tố khác như nhà trường hay mối quan hệ bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng. Những trẻ thường bị bạn bè bắt nạt hay giáo viên ghét bỏ thường phát triển dạng “đối lập” hay “trốn tránh”.

Các kiểu gắn bó trong giai đoạn trưởng thành (từ 13 tuổi trở đi) được mở rộng và đánh giá dựa trên hai tiêu chí:

  • Trốn tránh (Avoidance): được đánh giá dựa trên mức độ một người muốn xây dựng hay trốn tránh các mối quan hệ.
  • Lo lắng (Anxiety): được đánh giá dựa trên mức độ cảm thấy “an toàn” hay “lo sợ” của một người khi xây dựng các mối quan hệ với người khác.

Dựa trên hai thang tiêu chí, chúng ta được chia thành bốn dạng khác nhau:

Bền chặt (The secure attachment) là những người có mức trốn tránh và lo lắng thấp. Họ có xu hướng tin tưởng người khác và đồng thời chấp nhận trở thành chỗ dựa cho những người khác. Họ có các mối quan hệ ổn định, lâu dài, quan tâm đến người khác, có cái nhìn tích cực về bản thân, dễ phục hồi từ những tổn thương tinh thần. Đây chính là những đứa bé thể hiện kiểu gắn bó “bền chặt” khi còn nhỏ.

Trốn tránh (The dismissing-avoidant attachment) là những người có mức trốn tránh cao nhưng lo lắng thấp. Họ thường không tin tưởng người khác và cũng không muốn người khác dựa dẫm vào mình. Họ hoạt động độc lập, muốn đảm nhận tất cả mọi thứ, không muốn nhận sự giúp đỡ của người khác, trốn tránh việc thiết lập các mối quan hệ thân thiết mà chỉ duy trì các mối quan hệ ở mức xã giao. Họ sẽ dùng thời gian tham gia nhiều hoạt động hay làm việc quá sức để không phải tìm kiếm các mối quan hệ.

Lo sợ chiếm hữu (The anxious pre-occupied attachment) là những người có mức lo lắng cao nhưng trốn tránh thấp. Họ không né tránh việc xây dựng các mối quan hệ thân thiết, nhưng họ rất thường xuyên tỏ ra lo sợ việc mối quan hệ có thể đổ vỡ, không tự tin về bản thân (“Anh ấy không yêu em nhiều như em yêu anh ấy!) Do vậy, họ thường ghen tuông, kiểm soát các mối quan hệ rất dữ dội. Họ trải qua các mối quan hệ khác nhau vì sự thiếu lòng tin sẽ khiến họ không thể duy trì mối quan hệ lâu dài với người khác.

Lo sợ trốn tránh (The fearful avoidant attachment) là những người có mức lo lắng và trốn tránh cao. Đây là những người có phần muốn xây dựng mối quan hệ thân thiết nhưng họ không chủ động tìm kiếm vì họ lo sợ bị tổn thương nếu mối quan hệ thân thiết đổ vỡ. Họ sẽ chỉ xây dựng mối quan hệ với ai mà họ cảm thấy tin tưởng và có thể gắn bó lâu dài, và khi đã xây dựng mối quan hệ thành công, họ sẽ lo sợ và tìm cách giữ chặt đối phương.

Đọc bốn dạng người, hẳn nhiên các bạn cũng thấy được dạng được các nhà tâm lý khuyến khích chính là dạng “bền chặt” (secure attachment style). Đây là dạng người hiểu rõ bản thân, tự tin tìm kiếm và trải nghiệm các mối quan hệ. Họ biết rằng họ hoàn toàn có thể bị tổn thương, nhưng họ sẵn sàng trải qua tổn thương để có được trải nghiệm và tìm kiếm người thích hợp nhất cho mình. Nếu bạn không phải là kiểu người “bền chặt”, đừng lo lắng, chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi bản thân nếu chúng ta hiểu rõ bản thân và thật sự muốn thay đổi :-)

Nếu bạn hay trốn tránh? Trước hết, hãy bắt đầu cải thiện từ các mối quan hệ gần gũi và quan trọng nhất như gia đình, bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp v.v Hãy cởi mở hơn với họ. Hãy hỏi thăm về gia đình và các mối quan tâm của họ. Bạn có biết màu sắc yêu thích nhất của cô bạn đồng nghiệp ngồi kế bạn mỗi ngày không? Bắt đầu xây dựng sự tin tưởng và thân thiết từ những buổi trò chuyện vụn vặt. Ngoài ra, bạn có thể thư giãn một chút, không nhất thiết phải làm việc cả cuối tuần đâu, hãy tham gia vào một câu lạc bộ hay sinh hoạt đội nhóm, bạn hoàn toàn có thể tìm được những người bạn mới cùng sở thích.

Nếu bạn hay lo sợ, hãy giảm bớt số lượng các tin nhắn “Anh ở đâu?”, “Anh làm gì?” vì rõ ràng anh ấy chẳng muốn có thêm người mẹ thứ hai đâu. Nếu bạn lúc nào cũng cảm thấy lo lắng sợ hãi thì người ấy cũng sẽ dần dần cảm thấy lo lắng và chán nản theo bạn và dẫn đến mối quan hệ trở nên mỏng manh hơn bao giờ hết. Xây dựng cảm giác an toàn và tự tin trong mối quan hệ bắt đầu từ việc tạo cảm giác an toàn và tự tin cho chính đối tác của mình (self-fulfilling prophecy)

Hãy nhớ rằng, điều quan trọng nhất là bạn phải muốn thay đổi! Hãy nói chuyện với những người bạn thân của mình, họ sẽ cho bạn những gợi ý tốt.

Bây giờ VIET Psychology chắc rằng bạn có thể trả lời câu hỏi “Vì sao nàng là hoạn thư?” đặt ra ở đầu bài.(Hãy bôi đen dòng này để thấy đáp án): Rất đơn giản, cô ấy thuộc nhóm người lo sợ chiếm hữu hay lo sợ trốn tránh :)

Để thực tập cách phân tích dạng phát triển quan hệ tình cảm của người khác, hãy thử làm hai “bài tập” đơn giản dưới đây nhé! Comment dưới bài này cùng câu trả lời của bạn và chúng tôi sẽ công bố người chiến thắng của thử thách này trong bài tiếp theo!

Ba điều

* Ba điều trong đời một khi đã đi qua không thể lấy lại được:
- Thời gian
- Lời nói
- Cơ hội

* Ba điều trong đời không được đánh mất:
- Sự thanh thản
- Hy vọng
- Lòng trung thực

* Ba thứ có giá trị nhất trong đời:
- Tình yêu
- Lòng tự tin
- Bạn bè

* Ba thứ trong đời không bao giờ bền vững được:
- Giấc mơ
- Thành công
- Tài sản

* Ba điều làm nên giá trị một con người:
- Siêng năng
- Chân thành
- Thành đạt

* Ba điều trong đời làm hỏng một con người:
- Rượu
- Lòng tự cao.
- Sự giận dữ.

(st)