Vậy mà cô gái trong gần 10 năm chưa một lần đủ tiền về đón tết với gia đình đã từ chối sở hữu số tiền 6,6 tỉ đồng ngẫu nhiên “rơi” vào tay mình, tìm trả lại cho người mà chính người ấy cũng không biết mình có số tiền đó.

Bôn ba đời cô gái nghèo

Mùa lũ năm 1993, tuy nước về vùng Đồng Tháp Mười không quá cao, nhưng cũng đủ làm ngập con đường làng dẫn đến trường ở ấp Long Hữu – xã Long Khánh A – huyện Hồng Ngự - tỉnh Đồng Tháp, làm các học sinh nhỏ ở đây phải tạm nghỉ học nửa tháng. Sau khi nước rút, các học sinh đi học trở lại, chỉ có em Phạm Thị Lành (học sinh lớp 4) là ngậm ngùi tiếp tục ngồi nhà nhìn các bạn đến trường. Nước lũ đã làm ngập ướt hết sách vở của em, mà nhà thì quá nghèo, cha mẹ không ruộng đất, không lấy đâu ra tiền mua sách vở mới, nên cô em út trong gia đình 3 người con cũng phải theo gót 2 anh sớm bỏ học ở nhà đi mót lúa phụ cha mẹ.

Đến năm 17 tuổi, cô gái đã làm cuộc dấn thân khi đi theo bạn bè làm công nhân ở tận TPHCM, cách nhà mấy trăm cây số. Làm công nhân ở thành phố lớn (Cty chế biến nước chấm Mekong) tuy thu nhập không phải là thấp, nhưng giá sinh hoạt, nhà trọ ngày càng đắt đỏ, Lành không dành dụm được nhiều tiền để gửi về cho mẹ Phạm Thị Thêm. Cô quyết định về Khu công nghiệp Thuận Đạo (huyện Bến Lức, tỉnh Long An) tiếp tục làm công nhân với hy vọng sẽ dành dụm được khá hơn. Cô đã là công nhân Cty giày Ching Luh (có số lượng công nhân lớn nhất ĐBSCL, hơn 20 ngàn người) ngay từ đầu khi công ty đi vào hoạt động. Rồi cô gái lập gia đình với một chàng trai nghèo cùng quê tên Lê Văn Nam cũng đi làm công nhân ở Bến Lức. Đứa con đầu lòng Lê Nhựt Hào ra đời, cuộc sống của đôi vợ chồng nghèo xa nhà càng thêm cơ cực.

Gia đình cô gái càng thêm khốn khổ khi người anh thứ hai của cô là Phạm Văn Hiếu bị chết đột ngột, bỏ lại 3 đứa con nhỏ cho ông bà Thêm nuôi (vợ của Hiếu đã bỏ đi trước đó). Rồi người anh kế Phạm Văn Nghiêm bất ngờ bị bệnh tâm thần, phải vào Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, bỏ lại 3 đứa con nhỏ nữa cho bà Thêm nuôi (vợ của Nghiêm cũng bỏ chồng con từ trước). Toàn bộ gánh nặng trong gia đình dồn lên vai vợ chồng cô gái trẻ vừa mới sinh con. Hết thời gian nghỉ hộ sản, trở lại nhà máy làm việc, Lành không có cách gì khắc phục chuyện vừa đi làm vừa chăm sóc con. Vậy là cô công nhân giỏi quyết định nghỉ làm nhà máy, đi bán vé số để có thể coi sóc con. Chồng của Lành cũng nghỉ làm công nhân, ra chạy xe ôm để phụ giúp vợ. Cuộc sống nghèo khó cứ tưởng sẽ tiếp tục trói buộc cuộc đời của họ. Cho đến một ngày...

Cô Lành và anh Tuấn. Ảnh: K.Q.
Cô Lành và anh Tuấn. Ảnh: K.Q.

Những tờ vé số định mệnh

Cơn mưa chiều nặng hạt cuối mùa làm ngừng trệ nhiều hoạt động ở thị trấn Bến Lức. Những người bán vé số cũng chịu ảnh hưởng, gần đến giờ xổ số mà ai cũng còn xấp vé số dày trên tay. Dù phải “đội mưa” đi bán, nhưng Lành cũng còn ế hơn 20 tờ. Mỗi ngày cô lãnh ở đại lý vé số Hòa 200 tờ, bán xong quay lại nộp tiền, tiền lời mỗi tờ 1.100 đồng. Vào mùa khô số lượng bán khá hơn. Bằng cách đó, mỗi ngày cô gái kiếm được 200 – 300 ngàn đồng. Lành chỉ giữ lại 1/3 số đó (cùng với thu nhập của chồng) để chi tiêu cho gia đình nhỏ của mình, còn lại gửi hết về cho mẹ nuôi các cháu. Như vẫn thường làm mỗi khi có vé số ế, Lành điện thoại năn nỉ các mối quen mua giúp. Nhưng sau 4 – 5 cú điện thoại mà các mối quen đều từ chối vì nhiều lý do. Lành tiếp tục điện cho mối quen là người chạy xe ba gác tên Đỗ Ngọc Tuấn (SN 1971 - ngụ khu phố 2, thị trấn Bến Lức). Anh Tuấn lúc trưa đã mua của Lành mấy tờ vé số, nhưng thấy cô gái năn nỉ quá, đã động lòng hứa mua hết 20 tờ vé số còn lại, hẹn chút nữa sẽ ghé quán Cây Mai để lấy vé số và trả tiền. Thế nhưng, sau khi lên một xe sắt đầy và chở đi giao cho khách, anh Tuấn quên mất chuyện 20 tờ vé số đã hứa mua, anh đã không đến lấy vé số, vì vậy mà cũng chưa trả tiền.

Đến hơn 17 giờ (ngày 15.11.2011), sau giờ quay xổ số, lúc đang chở hàng đi giao, anh Tuấn thấy có điện thoại của “Lành vé số”, anh mới chợt nhớ đến vụ 20 tờ vé số mua chưa trả tiền. Giọng cô Lành trong điện thoại: “Anh đem 200 ngàn đồng tới quán càphê Cây Mai để trả nợ tiền vé số cho tui. Mấy tờ vé số anh mua thiếu trúng độc đắc rồi nè”. Tuấn thầm nghĩ cô gái nói xạo, đã “trúng độc đắc” mà còn “đem 200 ngàn đồng tới trả nợ”, nhưng cũng hứa khi giao hàng xong sẽ đem tiền tới trả cho cô. Theo lời kể của anh Tuấn, lúc hứa mua 20 tờ vé số qua điện thoại, anh chỉ biết có 3 số khác nhau, một trong số đó là “đuôi 07”, còn cả dãy số thế nào thì anh không biết. Anh Tuấn cũng thừa nhận, nếu Lành không gọi anh tới trả tiền, anh cũng không nhớ vụ hứa mua vé số.

Sau khi giao hàng xong cho khách, anh Tuấn chạy xe tới quán Cây Mai để trả nợ cho Lành. Cô gái mở túi  lấy ra xấp vé số ra giao cho anh Tuấn và nói: “Đây là 20 tờ vé số của anh. Trong đó có 4 tờ 07 đuôi trúng đặc biệt, còn 6 tờ trúng an ủi”. Đến lúc đó anh Tuấn vẫn nghĩ cô Lành đùa dai, như cô vẫn hay đùa bao lần trước. Nhìn vào dãy số 191207 trên tờ vé số, đọ lại thấy trùng khít với dãy số ở giải đặc biệt trong cuốn sổ dò “Đài Bến Tre” ngày 15.11.2011, anh Tuấn vẫn chưa tin. Anh bấm điện thoại nhắn tin dò xổ số qua tổng đài...

Viết tiếp truyện cổ tích

Anh Tuấn đã rút 1 trong 4 tờ vé số trúng giải đặc biệt (mỗi tờ 1,5 tỉ đồng) tặng cho cô Lành. Mấy ngày sau, như thấy số tiền tặng cho cô gái bán vé số vẫn chưa tương xứng, anh Tuấn mời cả 2 vợ chồng Lành đi siêu thị và hứa: “Những thứ gì có trong siêu thị, hai người mua thoải mái, mấy trăm triệu cũng được, đem ra tui thanh toán hết”. Anh Tuấn nghĩ, nếu anh cho thêm tiền, có thể vợ chồng Lành lại đem gửi ngân hàng hoặc gửi về nhà cho mẹ, mà không mua sắm gì cho riêng mình. Vì vậy anh bày ra màn đi siêu thị để vợ chồng cô gái mua những đồ dùng cần thiết như tivi, tủ lạnh, xe máy, điện thoại v.v... Thế nhưng, sau hơn 1 giờ đi siêu thị, vợ chồng Lành đến quầy tính tiền tổng cộng... 600 ngàn đồng, gồm các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt như xàphòng, kem đánh răng, bánh kẹo cho con...

Sau khi lĩnh tiền trúng số, vợ chồng Lành đã đi xe đò về Hồng Ngự thăm cha mẹ và báo tin vui. Cô trao một phần tiền để cha mẹ mua đất cất nhà, số còn lại gửi hết vào ngân hàng để cha mẹ lấy lãi hằng tháng nuôi 6 đứa cháu bất hạnh. Vợ chồng cô cũng dự định đưa đứa con nhỏ về Hồng Ngự cho cha mẹ nuôi, còn họ ở lại Bến Lức, vợ bán vé số (hoặc đi làm công nhân), chồng chạy xe ôm kiếm sống. Tại Bến Lức, cô Lành có người bạn thân tên Thành, trước từng làm công nhân chung, sau cùng đi bán vé số. Sau khi trúng số, Lành tặng ngay người bạn nghèo 37 triệu đồng và  cho bạn mượn thêm 15 triệu đồng để lo cho gia đình.

Trong khi đó, hằng ngày cô  vẫn đạp chiếc xe đạp cũ đã gắn bó với mình nhiều năm qua đi bán vé số. Cô Lành cho biết, trong mấy năm đi bán vé số, cô đã chứng kiến không ít trường hợp trúng số độc đắc, nhưng không mang đến hạnh phúc, mà là tai họa. Bất ngờ có số tiền lớn, họ tiêu xài phung phí, ăn chơi vô độ, tiếp tục mua vé số với số lượng lớn để mong sẽ trúng lớn hơn. Cuối cùng là tiền trúng số hết sạch, nhà cửa không còn, gia đình tan nát... Cô gái quan niệm, tiền trúng số là “của trời cho”, phải dùng vào việc nghĩa thì nó mới còn lâu bền, mới còn ở lại mãi với mình!

Câu chuyện của anh Tuấn cũng không khác nhiều so với cô Lành. Sau khi lĩnh tiền trúng số (hơn 4 tỉ đồng, sau khi trừ thuế), anh bỏ ra hơn trăm triệu để sửa lại căn nhà cấp 4 đã xuống cấp nặng, dùng một ít làm từ thiện với bà con lối xóm, xong gửi hết vào ngân hàng coi như tài sản anh để lại cho 2 đứa con nhỏ. Hằng ngày anh tiếp tục chạy xe bagác, vợ anh vẫn làm công nhân, như chưa hề có một vụ trúng số “khủng” đã đến với anh.

Kỳ Quan