[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Sông Đà bị… cưỡng bức

Sông Đà bị… cưỡng bức

Tác giả: Lãng Quân
Bài đã được xuất bản.: 01/06/2012 06:00 GMT+7

Những cỗ máy đào đãi vàng sa khoáng tiền tỉ cứ gào rít, ngấu nghiến bới sỏi đá của sông Đà. Dọc hơn 100km chiều dài Đà Giang hùng vĩ nhất Tây Bắc (thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu), những trái núi đất đá bỗng dưng mọc ra giữa lòng sông mùa nước cạn.

Ruộng đất của bà con bị vô số các “tàu vàng” ngoạm không thương tiếc. Thuỷ ngân và nhiều độc tố khác như cyanua đổ thẳng ra mặt nước sông Đà. Nước ấy lại là nguồn sinh dưỡng của nhiều vạn cư dân lưu vực và nó chính là nguồn cấp vào nhà máy nước phục vụ việc ăn uống sinh hoạt cho đông đảo người dân Hà Nội!

Bài 1: Đục nước béo cò

Con đường hơn 200km từ tỉnh lỵ Lai Châu vào Mường Tè bây giờ rất xấu. Một phần lý do: Để thi công thuỷ điện Lai Châu, người ta không có cách nào khác là… cày nát đường dân sinh mà chở máy móc, vật liệu. Giữa đêm, chúng tôi lạc vào một mỏ đá cách mặt đường cũ những 15km. Đêm đen bịt bùng, để vẫy gọi được một chú lái xe ngồi tít trên khói bụi xuống mà hỏi thăm quả là một kỳ công.

“Ối giời ơi, bây giờ đường vào mỏ đá của chúng em lại to và đẹp hơn đường cũ. Các bác thi nhau lạc là phải. Đến ngã ba nào đó, cứ nhằm đường bé và đầy ắp bùn đất mà đi, ấy mới là đường của Nhà nước”.

“Sống chết mặc bay, vàng “thầy” bỏ túi”

Nhưng kinh hoàng hơn cả là những cỗ máy đào vàng sa khoáng gào rú đinh tai nhức óc, những chiếc máy xúc nhả khói đen kịt ở dưới sông Đà. Hơn 30 cán bộ thị sát của đoàn “Hành trình Việt Nam xanh”, trong đó có TS Lê Đức Chương – Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch); ai cũng xót xa rồi liên tục nhoai người ra nhìn cảnh sông Đà bị “tàn sát”.

Tính từ xã Mường Mô gần 50 cây số hắt vào huyện Mường Tè, sông Đà đi ven đường ôtô, chúng tôi đếm được hàng chục tàu vàng. Từ cảng Pô Lếch ngược lên trước Trạm biên phòng Kẻng Mỏ (thuộc Đồn biên phòng Ka Lăng) cũng vài chục cái “ngự trị” giữa sông.

Những chiếc tàu vàng biến sông Đà mùa khô thành một bãi “chiến trường” tan hoang như vừa bị bom oanh tạc. Tính bỏ rẻ cũng phải là 1 tỉ đồng/chiếc tàu vàng với những gàu múc đất đá vĩ đại kia. Ai đã đầu tư các tàu vàng này? Các doanh nghiệp, cá nhân lùng sục đào tung sông Đà, nuốt chửng ruộng bãi của dân để thu vàng thoi bạc nén vào túi mình; còn lại bao hậu hoạ trải khắp mấy trăm cây số hạ lưu sông thì ai gánh chịu?

Nhiều người rất có lý khi chua xót cho rằng: Sông Đà khổ vì… giàu có năng lượng và khoáng sản. Nhà văn Nguyễn Tuân từng viết các áng văn trác tuyệt về sông Đà, trong đó có những chi tiết rất thật mà hiếm ai là không nhớ, rằng: Khi người dân bản Thái mổ con vịt sống ở ven suối đổ ra Đà Giang, họ thấy diều vịt lóng lánh các hạt mảy vàng. Có phải các phu vàng đã cầm cố nhà cửa, vay ngân hàng đóng tàu tiền tỉ theo tiếng gọi của cụ Nguyễn Tuân?

Với chiều dài 500km chảy trên nước ta, sông Đà được mệnh danh là “Dòng sông năng lượng lớn nhất Việt Nam”, vì thế nên công trình thế kỷ thuỷ điện Hoà Bình xong, người ta làm tiếp thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á là Sơn La và bây giờ là gấp rút với thuỷ điện Lai Châu. Cái khúc hàng trăm cây số chiều dài sông Đà đã bị chiếm bởi 3 nấc thang thuỷ điện lớn rồi thì không tính nữa. Hắt từ chân đập Thuỷ điện Lai Châu lên đến nơi sông Đà bắt đầu gặp đất Việt Nam, hơn 100km đó, trong giai đoạn chờ… ngập nước, người ta thi nhau “đục nước béo cò”.

Theo lãnh đạo huyện Mường Tè, Bộ TNMT cũng cấp phép cho doanh nghiệp lên thăm dò khoáng sản hoặc giấy chứng nhận đầu tư (nhưng họ tham gia đào vàng) ở đây. Tỉnh Lai Châu cũng cấp phép. Mấy “ông” doanh nghiệp “làm vàng” trúng lớn, dân cũng đổ xô đi làm. Gần 50 điểm “đào bộ” với các đầu nậu thuê máy nổ, cũng máng trượt, cũng máy xúc của Nhật chạy rầm rầm, người làm thuê chạy di dít ven sông. Doanh nghiệp đóng tàu vàng ở tít dưới Minh Châu, Ba Vì, Hà Nội, chở máy móc bằng xe “siêu trường siêu trọng” lên Mường Tè, họ mang từng linh kiện xuống sông và lắp ráp ở đó.

Một năm có mấy tháng mùa khô, thế nhưng sông Đà vẫn “dậy sóng” bởi nạn đào vàng có phép và không phép. Từ lâu lắm, toàn bộ các tàu vàng đã hết hạn cấp phép. Nhưng họ không đem các cỗ máy tiền tỉ đi, mà cứ nằm chình ình trên sông. Đợi lúc nào im ắng lại khai thác. Khi chúng tôi có mặt, việc đào vàng vẫn khá tấp nập. Cả ngày lẫn đêm, người ta vô tư đào vàng, bới sông, xẻ thịt bờ bãi.

“Dân vận” khéo như ông chủ tàu vàng!

Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi: Khoảng 40 chiếc tàu vàng tiền tỉ hiện đang “ngự” ở thượng du sông Đà; cùng với đó là gần 50 điểm “đào bộ” khác của bà con ven sông. Trước tết năm 2012, một tàu vàng ở giáp biên giới bị lũ cuốn cho lật nhào, ông chủ và “đàn em” méo mặt trục vớt. Mùa mưa năm 2008, có đến 7 – 8 tàu bị lũ cuốn trôi bởi con sông Đà hung hiểm “năm năm báo oán đời đời đánh ghen”.

Tiền tỉ, nhiều tỉ đổ xuống sông, có “bưởng vàng” phải bỏ nghề. Nhưng sức hút khủng khiếp của vàng sa khoáng lóng lánh trong diều con vịt suối đổ ra sông Đà vẫn thôi thúc các bưởng đeo bám kiếm ăn. Nhiều nghìn lít dầu được đổ vào các cỗ máy để hoạt động mỗi ngày. Lượng dầu xả ra môi trường là kinh dị.

Một cán bộ “cắm bản” lâu năm ở xã Mường Tè, huyện Mường Tè gật gù: Các chủ vàng vớ bẫm, nên họ tìm cách chui qua mọi “cửa” để có thể đứng được trên chỗ sông Đà này. Họ nhanh chóng có đủ mọi giấy phép, bất chấp người dân sở tại bất bình vì việc đào bới, khuấy đục sông, gây tiếng ồn hãi hùng. Ngay cả bây giờ trung ương có lệnh cấm, UBND tỉnh Lai Châu đã có chỉ thị 119 đóng cửa tuyệt đối toàn bộ các điểm mỏ, cấm các tàu vàng hoạt động kể từ ngày 29.2.2012 rồi, nhưng các tàu vàng vẫn nghênh ngang đứng đó và ồn ào hoạt động.

Danh nghĩa là họ đứng đó chứ không hề hoạt động. Nhiều người bảo, sao chính quyền không yêu cầu chủ tàu mang phương tiện đi nơi khác? Điều vô lý này cứ treo ở đó. Khi bà con bị tàu vàng ngoạm mất ruộng, bãi, đất đai, họ căm phẫn kiến nghị. Bà con cắt đứt những dây cáp phi 20 – 30 dùng để neo tàu vàng trên sông. Lập tức các chủ tàu có “lễ lạt” ngay. Với dân, họ đền bù, họ cho dùng điện máy nổ của họ mà thắp sáng: Một tuần ba ngày, mỗi ngày vài tiếng buổi đêm. Họ lên bờ mua thực phẩm với giá cao… Họ làm mọi cách “đi đêm” để có thể được đào vàng.

Dọc con đường hơn 100km men theo sông Đà, chúng tôi tận mắt chứng kiến cảnh tàu đào vàng hoạt động cả ngày lẫn đêm. Người dân cũng đua nhau đào vàng. Nếu không có clip quay lại, không có những bức ảnh chụp lại, thì có lẽ người ta buộc phải tin vào lời cán bộ tỉnh Lai Châu, huyện Mường Tè đã nói, rằng các tàu vàng đã ngừng hoạt động từ lâu.

Theo ông Hoàng Minh Hải – Phó Trưởng phòng Địa chất khoáng sản, Sở Tài nguyên – Môi trường Lai Châu – thì hiện nay không có một tàu vàng nào trên sông Đà còn giấy phép hoạt động, không một địa điểm nào ven sông Đà được phép đào vàng. Vậy là, tất cả mọi hoạt động “đắp núi” và đầu độc sông Đà thông qua đào vàng kể trên đều là hành vi thách thức pháp luật. Giữa tháng 5.2012, lãnh đạo UBND huyện Mường Tè thở dài nói với nhà báo: “Chúng tôi làm khổ lắm, đi tuần tra cả ngày lẫn đêm, tàu vàng nào vi phạm là trục xuất khỏi địa phương ngay. Nhưng ngặt nỗi, huyện nhà còn khó khăn, đường sá đi lại hiểm trở, nên…”.

Chẳng biết ông Hải định nói gì. Chúng tôi thì thấy sông Đà tan hoang, người dân khốn đốn, đặc biệt là nguy cơ nhãn tiền đáng sợ: Nhiễm độc thuỷ ngân và cyanua (những thứ không thể thiếu phục vụ khai thác vàng) trong dòng nước ăn, nước sinh hoạt của nhiều vạn cư dân ven sông Đà, cũng như đông đảo người Hà Nội!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bể nước ăn Hà Nội đang bị đầu độc

Bể nước ăn Hà Nội đang bị đầu độc

Tác giả: Lãng Quân
Bài đã được xuất bản.: 02/06/2012 06:00 GMT+7

Nhìn những đống đất đá chất ngất như bãi chiến trường tan hoang giữa lòng sông Đà, ai cũng phải đau lòng. Con sông dữ dằn, ghềnh thác, thơ mộng “như nỗi niềm cổ tích ngày xưa” trong văn của Nguyễn Tuân, bây giờ chỉ còn trong… sách vở và ký ức.

Kỳ 1: Sông Đà bị… cưỡng bức

Có thể thấy rất nhiều người cùng các thùng hoá chất, nhiên liệu vẫn “cố thủ” trên con tàu “hết hạn giấy phép hoạt động đã… vài trăm ngày”, họ vẫn cày xới và “đầu độc” sông Đà suốt đêm ngày.

Nhưng quan trọng hơn, bà con sống trong lưu vực mấy trăm cây số dọc sông Đà, cả người Hà Nội lọc nước mặt sông Đà về làm nước ăn uống sinh hoạt còn đang phải đối mặt với một hiểm hoạ đáng sợ hơn: Đà Giang bị nhiễm độc thuỷ ngân và cyanua.

Bạn đồng hành của phu vàng

Ai cũng biết thuỷ ngân và cyanua là những chất cực độc. Tuy nhiên trong đào đãi vàng sa khoáng, nó lại là những phụ gia không thể nào thiếu để phục vụ việc lọc tìm các mảy vàng lẫn trong đất đá. Cyanua dùng để ủ vào trong hầm chứa đất có quặng vàng, ngâm trong 15 ngày trước khi đốt, bới tìm vàng. Nước từ các hầm ủ này rỉ ra cỏ, trâu bò ăn vài ngọn cỏ đủ lăn ra chết. Suốt thời gian rất dài, trước thông tin về việc nước sông Đà sẽ dâng lên do thuỷ điện, người ta xâu xé sông Đà để đào vàng, thử hỏi bao nhiêu độc tố đã thải ra sông Đà?

Hiện nay, theo thừa nhận của lãnh đạo huyện Mường Tè là có ít nhất 30 tàu vàng khổng lồ, tiền tỉ đang ngự trên sông Đà. Theo kiểm đếm sơ bộ bằng mắt thường khi đi dọc sông Đà (nhiều đoạn sông không hiện ra trước tầm mắt người đi đường bộ), chúng tôi thấy ít nhất là 40 tàu riêng ở khúc sông Đà chảy qua Mường Tè. Nếu mỗi tàu, một ngày hoạt động liên tục tiêu hết vài trăm lít dầu, thì thử hỏi số dầu thừa dầu cặn, dầu thải, dầu rơi rớt trên sông Đà đáng sợ đến mức nào. Bên cạnh đó là những thùng lọc, máng lọc có thuỷ ngân và cyanua.

 

Bà con ven sông bây giờ hầu như bỏ nghề đánh cá, bởi dòng nước độc đã tiêu diệt vãn cá tôm. Những cán bộ huyện Mường Tè và cán bộ biên phòng quản lý địa bàn đều thừa nhận: Các bưởng lọc vàng bằng thuỷ ngân! Khi nhà báo đột nhập các “biệt thự tiền tỉ” (máy đào vàng) gào thét đào bới giữa sông Đà, thì người quản lý cũng thừa nhận họ dùng thuỷ ngân để lọc vàng. Tất cả các nhà khoa học mà chúng tôi tham khảo ý kiến, cũng đều cho biết “nó không lọc bằng thuỷ ngân hay cyanua thì lọc bằng gì được nữa”. Vậy thì, ai sẽ kiểm soát việc đầu độc sông Đà bằng những hoá chất đáng sợ bậc nhất kia?

Có thể thấy rất nhiều người cùng các thùng hoá chất, nhiên liệu vẫn “cố thủ” trên con tàu “hết hạn giấy phép hoạt động đã… vài trăm ngày”, họ vẫn cày xới và “đầu độc” sông Đà suốt đêm ngày. Ảnh: Lãng Quân

Lãnh đạo Sở Tài nguyên – Môi trường Điện Biên từng trả lời báo chí xung quanh các tàu đào vàng trên sông Đà thuộc địa bàn tỉnh mình quản lý: Rằng, chưa có nghiên cứu về mức độ này. Mà nói thẳng ra: Đến việc UBND tỉnh Lai Châu có Quyết định 119, cấm toàn bộ hoạt động khai thác vàng sa khoáng trên địa bàn, trong đó có sông Đà (kể cả các tàu do Bộ Tài nguyên – Môi trường cấp phép – ông lãnh đạo huyện Mường Tè nhấn mạnh!) nhưng suốt đêm ngày các tàu vàng khổng lồ vẫn cứ gào rú đinh tai nhức óc, khói toả mịt mờ (nghĩa là ai cũng có thể phát hiện ra).

Tỉnh vẫn cố tỏ ra “đau đầu”, huyện vẫn thành lập đoàn kiểm tra đi suốt đêm ngày để ngăn chặn và xử lý (như lãnh đạo huyện Mường Tè báo cáo). Ngăn cái tàu lớn, cái sai lớn như thế còn chưa ngăn được, nói gì đến việc kiểm tra xem họ có xả thuỷ ngân ra sông không, rồi có đảm bảo các yếu tố môi trường hay không.

Thậm chí, các bưởng vàng bỏ tiền tỉ đổ xuống “đầu tư” bới móc sông Đà tìm vàng kia, họ làm gì với dòng sông, cũng chẳng ai biết. Cụ thể: Đến việc người dân xã  Mường Tè kiến nghị đòi quyền lợi vì không hiểu ai cho phép cho các tàu vàng “nhảy dù” vào xã mình đào bới, ngoạm cả ruộng, sạt cả đất của dân, cũng không ai giải quyết thấu đáo. Cuối cùng họ chơi “bài cùn” đứng trên bờ khua dao quắm mà chửi, vác búa chặt đứt cáp của chủ tàu vàng thì dân bưởng mới “xuống nước” đền bù và “vỗ về” bà con cho mình làm tiếp.

Việc các chủ tàu vàng, nhiều người nghiện hút, không biết chữ (theo tiết lộ của lực lượng biên phòng, đơn vị quản lý nhân khẩu các đối tượng này khi đào vàng ở giáp biên) làm ăn kiểu “luật rừng”, bừa phứa đào bới và xả độc ra sông Đà là không có gì đáng… ngạc nhiên.

Một lãnh đạo Trung tâm Con người và thiên nhiên (Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam), sau khi xem ảnh và clip về các tàu vàng chi chít trên sông Đà và thực trạng “đổ” thuỷ ngân xuống nước mặt sông Đà, đã cảnh báo: Người dân lưu vực ăn nước sông Đà, người Hà Nội dùng nước mặt sông Đà cần cẩn trọng.

Ai bảo là không độc hại? Lượng thuỷ ngân đó, dù lắng ở đâu, tự phân huỷ ở đâu thì nó vẫn tồn tại và sẽ ngấm ngầm gây hại. Kể cả các hồ như thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Sơn La có giúp lắng lọc độc tố, thì độc tố nó vẫn nằm trong hồ và cư dân miền Tây Bắc phải gánh chịu. Mà hồ thuỷ điện có lúc xả nước, có lúc xả cả đáy nước, thuỷ ngân vẫn về xuôi chứ chạy đi đâu?

Một phu vàng bỏ chạy khi thấy chúng tôi chụp ảnh từ xa, bên cạnh anh ta là các thùng hoá chất nguy hiểm và dầu máy “đầu độc” sông Đà.

Đợi nhiễm độc rồi thì… còn nói chuyện gì nữa!

Về vấn đề này, ông Nguyễn Thành Luân – Phó Giám đốc Trung tâm Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (Bộ NNPTNT) – nói: “Nếu trả lời khẳng định có hay không, thì phải có phân tích cụ thể. Nhưng, việc đào vàng thải môi trường như thế, chắc chắn là độc hại. Tuy nhiên, nguồn nước đó thải ra sông Đà rồi, thì trong quá trình chảy nó cũng có thể tự phân huỷ trong dòng sông, còn cái hàm lượng ấy sau đó có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người không, có vượt qua cái giới hạn cho phép không thì cần phải có phân tích cụ thể”.

“Ai cũng hiểu, từ Mường Tè về đến Hà Nội, nước sông Đà đã phải qua đường sông khá dài. Tuy nhiên, không có “thế giới đáng sợ” của những cái máy đào vàng khổng lồ “thải” thuỷ  ngân kia thì vẫn tốt cho môi trường và sức khoẻ người dân hơn là… có nó?”. “Tất nhiên! Nếu tình trạng này kéo dài, hoặc tăng số lượng máy đào vàng hay lượng thải độc hại có thuỷ ngân, cyanua và dầu máy ra môi trường thì chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Chắc chắn việc đào vàng trên diện rộng, đào bới dòng sông và xả thải như vậy sẽ gây ô nhiễm và sẽ bị ảnh hưởng đến chất lượng nước ông Đà.

Nhưng hiện tại có thể nguồn gây ô nhiễm đó chưa vượt qua giới hạn cho phép, hoặc ô nhiễm ở mức độ còn có thể xử lý được. Ví dụ thế. Nhưng ngay cả khi như thế, thì báo chí cũng cần lên tiếng tâm huyết và đầy đủ để bảo vệ nguồn nước, chứ còn đợi đến lúc nguồn nước thô của sông Đà đã ô nhiễm rồi thì cải tạo là rất khó” – ông Luân trả lời.

Xử lý thuỷ ngân và cyanua sẽ cực kỳ tốn kém

Ông Nguyễn Văn Tốn – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần nước sạch Vinaconex, đơn vị trực tiếp quản lý Nhà máy xử lý nước mặt sông Đà (cung cấp 210.000m3/ngày đêm) cho đông đảo người  dân Hà Nội sử dụng – nói: “Hiện chúng tôi chưa phát hiện hoá chất gì ảnh hưởng đến khu vực chúng tôi lấy nước mặt sông Đà. Tôi nói là có thể ở thượng nguồn có hiện tượng nhiễm độc thuỷ ngân và cyanua kể trên. Nhưng hàm lượng có thể chưa nhiều do thuỷ ngân đó đã bị pha loãng bởi lưu lượng nước rất lớn của sông Đà. Nó có thể dưới tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế. Nếu hàm lượng này cao lên thì rất nguy hiểm”.

“Nhưng nếu chúng ta cứ ngồi chờ đợi lúc hàm lượng thuỷ ngân từ thượng nguồn đổ về nó “vượt quá tiêu chuẩn cho phép” thì bấy giờ cực kỳ nan giải?”. “Đúng thế! Hiện chúng tôi lấy nước cách chân đập hồ thuỷ điện Hoà Bình khoảng 13km theo chiều nước chảy sông Đà. Chúng tôi muốn kiến nghị: Cơ quan chức năng, nếu cấp phép cho đào vàng, cơ sở đào vàng đó phải làm sao khống chế, kiểm soát được vấn đề chất thải ra môi trường. Cái quan trọng là việc cấp phép phải đi đôi với việc quản lý các cơ sở khai khoáng đó một cách nghiêm ngặt.

Chúng tôi muốn kiến nghị cơ quan nhà nước, nhất là cơ quan cấp phép cho cơ sở khai thác vàng, cần kiểm soát xả thải sao cho nước thải đạt tiêu chuẩn. Các cấp chính quyền cần quan tâm đúng mức vấn đề này, không sớm thì muộn cũng cần phải ngăn chặn thực trạng trên. Giả sử hàm lượng thuỷ ngân cứ tăng đến độ vượt mức cho phép, thì chúng tôi buộc phải có phương án thay đổi kịp thời để đảm bảo chất lượng nước cho người tiêu dùng Hà Nội. Như thế thì cực kỳ tốn kém và phức tạp” – ông Tốn nói.

CÂU CHUYỆN XUNG QUANH HÌNH MẪU CHÍ PHÈO, THỊ NỞ

Chuyên này copied lại từ trang: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=2005

Không thể không chép!

cám ơn bác Nguyen Vinh

LM

———————–

CÂU CHUYỆN XUNG QUANH HÌNH MẪU
CHÍ PHÈO, THỊ NỞ

TRẦN THỊ HỒNG 

Giữa trưa một ngày nóng nực nhất trong tháng bảy gia đình tôi có khách đó là ba thanh niên. Vào tới nhà, sau khi chào gia chủ, họ tự giới thiệu:

- Chúng cháu là Đông Hồng đạo diễn và Quốc Anh diễn viên của Công  ty Cổ phần Nghe nhìn Thăng Long. Công ty có ý định dựng bộ phim hài, dựa theo tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao, để trình chiếu trong dịp tết sắp tới.

Sáng nay, anh em chúng cháu vừa về Nhân Hậu, tới nhà tưởng niệm và khu mộ, để thắp hương xin phép ông rồi! Bây giờ chúng cháu tới gia đình báo cáo lại với hai bác. Đồng thời,  rất muốn hai bác cho nghe thêm những câu chuyện liên quan đến tác phẩm Chí Phèo.

Tôi bảo: “Truyện Chí Phèo của cha tôi, thì đã được các nhà phê bình văn học và bạn bè, đồng nghiệp của người đề cập khá nhiều.  Các anh có thể tìm đọc. Nhưng vì các anh muốn dựng phim hài, tôi cũng xin mạo muội kể vài mẩu chuyện tôi từng được nghe từ người thân và dân làng có chút hài hài để các anh tham khảo”.

Rồi tôi kể: “Chú ruột tôi là Trần Hữu Đạt bảo: Cha tôi xây dựng nhân vật  Chí Phèo là dựa vào hình ảnh của ba người: Người thứ nhất tên là Chí.  Cha mẹ ông Chí đều ở làng tôi, gia cảnh rất nghèo, quanh năm làm thuê, cuốc mướn.  Khi cha mẹ mất đi, Chí còn lại một mình, không có ruộng vườn, nhà cửa. Ngày ngày Chí đến làm việc cho một người làng tên là Trương Pháo.

Ông Trương Pháo thuê Chí mổ lợn rồi đem ra chợ bán. Làm xong,  Chí không đòi tiền, chỉ xin cút rượu và một đoạn cái phèo của con lợn. Có hai thứ đó là xong bữa của Chí. Mỗi buổi tối, sau khi uống rượu xong, Chí khật khưỡng đi đến cái lều ở chợ.

Ai gặp Chí cũng hỏi để trêu đùa: “Anh Chí đi đâu đấy?”. Chí trả lời ngay: “Đi phèo đây”. Ý của Chí là đi ngủ. Cứ thế Chí sống một mình, chẳng lấy được vợ. Nhưng Chí rất hiền, không rạch mặt, ăn vạ.

Người thứ hai tên Trinh, ông này không biết cha, mẹ quê quán ở đâu. Ông chính là đứa trẻ người ta nhặt được ở cái lò gạch bỏ hoang. Ông uống rượu rất nhiều, và khi rượu vào thì lời ra. Ông chửi mọi người và chửi trời, chửi đất. Hễ hơi động vào ông là ông nằm ăn vạ.  Nhưng ông có vợ và một đàn con đông đúc.

Người thứ ba tên Đào. Ông Đào là em họ bà nội tôi. Ông khỏe mạnh, có cha, mẹ,  vợ con ở làng. Nhưng nhà cũng nghèo. Vợ ông chính là bà Trần Thị Nở. Một trong hai người cha tôi dựa vào để xây dựng nhân vật Thị Nở.  Ông Đào cũng chính là anh lực điền làm thuê cho nhà ông Chánh Bính (nhân vật Bá Kiến).

Trong ba người này, ông Trinh và ông Đào sống rồi chết ở làng. Riêng ông Chí về sau bỏ làng đi biệt xứ. Không có việc đâm chém giữa Chí Phèo và Bá Kiến. Song, mãi đến những năm gần đây, người ta phát hiện ra rằng, ông Chí không có vợ nhưng thực ra có con.

Con ông có tên là Rụ. Đó là kết quả mối tình của ông với một bà buôn trứng ở làng. Xung quanh mối quan hệ của anh canh  điền với bà vợ ba Bá Kiến, trong tác phẩm cha tôi chỉ viết: “… Hắn nhớ đến “bà Ba”, cái con quỷ hay bắt hắn bóp chân mà lại bóp lên trên,  trên nữa. Nó chỉ nghĩ đến sao cho thỏa, chứ có yêu hắn đâu. Hồi ấy hắn hai mươi tuổi. Hai mươi, người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Người ta không thích cái gì người ta khinh… Bà thấy xa xôi không được, phải làm đến nơi. Bà bảo hắn rằng: “Mày thật thà quá! Con trai gì hai mươi tuổi mà đã như ông già”. Hắn vẫn giả vờ không hiểu. Bà lẳng lơ bảo: “Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư?…”.

Nhưng anh Hoàng Cao là con bác ruột tôi, lại kể câu chuyện rất hài thế này: Một buổi trưa hè, chồng đi vắng, bà vợ ba  Nghị Bính (Bá Kiến) sai con ở đi hái nhãn. Còn lại một mình ở nhà, bà gọi Chí Phèo lên rồi đưa cho Chí một cái quạt lông rất to, cán dài…

Bà sai Chí Phèo quạt cho bà, nhưng phải quạt thật mạnh. Chí Phèo quạt. Bà Ba mặc yếm lụa vàng, không thắt giải ngang, mặc váy  lục đen, nằm trên phản, chân quay về phía Chí Phèo.

Chí Phèo quạt cái thứ nhất. Bà Ba giục: “Quạt mạnh vào”. Chí Phèo quạt cái thứ hai mạnh hơn. Yếm bà Ba hở ra và váy lục tốc lên. Chí đỏ mặt, chuyển đứng về phía đầu bà, thì bà liền xoay chân về phía “Chí Phèo” đứng và lại giục:

- Quạt nữa đi!

Chí Phèo quạt cái thứ ba, gió cũng thổi hợp với cái giãy giụa khéo léo của người nằm. Toàn bộ những cái cần che đậy trên người bà Ba đã hở hang, phô bày ra hết. Bà bảo:

- Thằng khỉ!

Lúng túng, Chí Phèo run run đáp:
- Lạy bà! Con không dám.

- Bà cho dám! – Tiếng bà Ba cất lên…

 Tưởng rằng chỉ có trời, bà Ba và Chí Phèo biết việc ấy. Nào ngờ, còn có một người nữa biết việc này, đó là ông Loan. Ông Loan là người hầu tráp  của Chánh Bính. Ông Loan đã vô tình được mục kích toàn bộ hành động của bà Ba và Chí Phèo.

Anh Hoàng Cao vốn là bạn với anh Nho, con út của ông Loan. Một lần anh đến chơi với bạn, gặp ông Loan cũng đang có mặt ở nhà anh Nho. Hai anh ngồi tán chuyện với nhau. Hết chuyện trên trời dưới biển chán thì lôi chuyện của cha tôi ra nói. Ông Loan mới tủm tỉm cười mà rằng:

- Tớ biết một chuyện còn hay gấp mấy truyện giáo Tri viết. Chúng mày biếu lão chai rượu,  lão kể cho mà nghe.

Sau đó ông kể câu chuyện trên cho các anh nghe. Ông còn chỉ vào bộ tràng kỷ trong nhà anh Nho mà nói: “Tớ có bộ tràng kỷ này là từ vụ đó”.

Ông Loan nói thêm: “Bà Ba là một người đàn bà tinh ranh, bà thừa biết tôi đã chùi mép  cho bà nên bà nhũn nhặn bảo: “Tôi rất quý cái bụng của anh. Anh ăn ở, thu vén cho nhà này từng ly, từng tí một. Tôi biết lắm anh ạ!  Anh cứ yên trí: Gái có công chồng chẳng phụ”. Rồi bà vội lật đầu giường, lấy ví của chồng, đưa cho tôi.

Kể chuyện này xong, ông Loan đã dặn rất kỹ những người ngồi nghe phải giữ mồm giữ miệng. Nhưng chẳng hiểu sao, câu chuyện “thâm cung bí sử” đó, vẫn nhanh chóng lan ra khắp làng. Từ đấy đám thanh niên, cứ mỗi lần gặp nhau, là thường cợt nhả. Chúng đấm vào lưng nhau rồi quát:

- Thằng khỉ!

Người bị đấm giả vờ khúm núm:

- Lạy bà! Con không dám!

Rồi đua nhau vừa cười váng lên, vừa hét:

- Bà cho dám, bà cho dám.

Chúng cứ vừa đấm, vừa cười ngặt nghẽo với nhau.

Cuộc đời của hai người phụ nữ, cha tôi dựa vào để xây dựng lên nhân vật Thị Nở cũng có nhiều nét hài.

Người thứ nhất là bà Trần Thị Nở. Cha bà Nở là ông Trần Hữu Kính, chuyên đi đóng thuê cối xay lúa, nên gọi là phó Kính. Bà Nở người đã xấu, tính lại dở hơi và rất hay cười. Đặc biệt, bà rất dễ buồn ngủ, mà đã buồn ngủ thì không sao cưỡng lại được. Do vậy, bà lăn ra ngủ ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào: chân đống rạ, chỗ gốc chuối, chân bụi tre… Thậm chí, có lần bà ra ao để xách nước. Vừa đến bờ ao, gặp cơn gió mát, đặt lọ xuống đất, ngồi dựa vào gốc sung, bà làm luôn một giấc dài.

Hàng xóm còn luôn nhắc đến tài bếp núc của bà, để răn dạy con gái. Bởi với bà Nở khi đã chồng, con rồi mà cơm bữa nào cũng trên sống, dưới khê, bốn bề nhão nhoét. Nhưng hễ ai vừa động kêu ca một tiếng, là ba dẩu ngay môi lên, rồi cãi lại rằng “sống đâu mà sống, chỉ hơi sượng thôi!”. Tuy vậy bà Nở vẫn chồng con đề huề. Chồng bà chính là ông Đào (cậu nhà văn Nam Cao) như trên tôi đã nói.

Người thứ hai là cô Trần Thị Thìn, con cụ phó Thảo. Cô Thìn cũng xấu: mặt ngắn, mũi to, da sần sùi và cũng dở người. Cô là em ruột bác Trần Duy Nâm, anh rể của mẹ tôi.

Nhà cụ Thảo thuộc hàng khá giả ở làng. Bác Nâm làm lý trưởng, gia cảnh bề thế. Nhưng cô Thìn vừa xấu, vừa dở tính, không lấy được chồng. Con trai làng, người nghèo thì không dám “với”, người giàu thì họ lại chê. Thật khổ cho cô Thìn, vì bản thân cô lại rất muốn lấy chồng. Hàng ngày mẹ sai đem chép ra vườn làm cỏ. Vườn nhà cô ở ngay cạnh đường đi. Các anh trai làng thường xuyên đi lại trên đường. Vì vậy cô cũng thường xuyên ngừng tay để bắt chuyện và mời mọc các anh vào vườn chơi. Do vậy cô làm cả ngày mà cỏ vẫn mọc xanh rì.

Cô bị mẹ mắng, chửi luôn luôn vì cái tội đó. Lúc ấy cô mới xếu mếu cái: “Thì u lấy chồng cho con đi”. Các anh trai làng biết vậy. Họ nghịch ngợm trêu: “Cô Thìn ơi! Hãy lấy tôi nhá!”. Lúc ấy, mũi Thìn bạnh ra, miệng cười hết cỡ. Và anh con trai cũng vừa cười vừa lảng.

Đang vui chuyện, chợt nhìn ra ngoài trời, thấy đã tắt nắng, tôi bảo:

- Thôi hẹn dịp khác, bây giờ muộn rồi! Các anh đi đường xa, sợ tối quá, không tiện.

Đạo diễn Đông Hồng và diễn viên Quốc Anh đứng dậy, nắm chặt tay chồng tôi!

- Chúng cháu cảm ơn hai bác rất nhiều ạ!
TRẦN THỊ HỒNG *

* Bà Hồng là con gái nhà văn Nam Cao

“Cụ”

"Cụ" Rùa hồ Hoàn Kiếm 3.2011

Cám ơn Tienphong.vn!

Cha mẹ trực thăng


… các bậc cha mẹ, hãy quên đi vai trò “hy sinh” hay “đắm đuối cá chuối…”,      hãy bỏ thói “đầu tư cho tương lai của con cái”…

Bạn cứ tưởng tượng những dịp lễ lạt lớn, khi mọi người khai hội ở dưới đất thì có trực thăng của cảnh sát vần vũ theo dõi an ninh trên bầu trời phòng khủng bố. Hay trong phim hành động có màn cảnh sát truy tội phạm trên mặt đất được trực thăng rọi đèn chỉ lối phía trên đầu.

Một thứ thuật ngữ mới trong tiếng Anh ngày càng thông dụng đó là cha mẹ trực thăng (helicopter parents, hoặc snow-ploughing parents, Parents from Hell, hovercrafts), mô tả một thứ cha mẹ suốt ngày lo lắng, định hướng, uốn nắn, ôm đồm, kiểm duyệt … do thám con cái. Các bậc cha mẹ, phần lớn thuộc lớp trung lưu ở Mỹ, Pháp, Úc…thường lo lắng đến mức kỳ cục khi tạo dựng tương lai cho con cái. Dạng cha mẹ này thường khiến trẻ hoàn toàn lệ thuộc vào họ về tình cảm và mất khả năng tự phát triển và ứng phó với đời.

Một nghiên cứu xã hội học gần đây cho biết khi lo lắng và đắm đuối vì con cái, các bậc cha mẹ đã làm hại chính họ. Quan hệ vợ chồng rạn nứt, mất bạn bè và các sinh hoạt xã hội của cả hai vợ chồng. Cả bố và mẹ trở nên hay cáu kỉnh, mất vui. Một số nghiên cứu khác đã kết luận, những ai không có con cái thường hạnh phúc hơn những người con đàn cháu đống. Và những người có con thường trở nên ổn định và hạnh phúc hơn khi con cái của họ ra đời lập nghiệp và gia đình riêng, sống tách khỏi bố mẹ. Một nghiên cứu khác kết luận cha mẹ nhiều khi muốn ngủ bù hoặc đi sắm đồ, thích hơn là dành thời gian với con cái của họ.

Có con cái là một trải nghiệm đầy hạnh phúc, một ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống. Nhưng đó cũng là một quá trình đầy gian khó. Cha mẹ ngày nay chịu áp lực nhiều gấp đôi so với cha mẹ thời những năm 50. Nguyên nhân chủ yếu là: cha mẹ dành quá quá nhiều thời gian chăm con. Đặc biệt có những người mẹ tiếp tục dành thời gian cho con cái ngay cả khi họ quay lại để đi làm, sau khi sinh. Họ không còn mấy các khoảnh khắc cho riêng mình.

Khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ trong việc trói chân tay cha mẹ. Ngày nay khi trẻ sơ sinh đã có bộ đàm trong buồng ngủ theo dõi, lớn lên chúng có mobile phone và Facebook hay twitter – rất tiện để bố mẹ do thám và chỉ đạo. Tệ hơn nữa, chính các cha mẹ bận bịu nhiều nhất với công việc ở sở lại thường giám sát con cái sâu sát và nặng nề nhất. Họ chịu stress nhiều nhất.

Chính vì vậy, một loạt các tác gia ngày nay khuyến khích các bậc cha mẹ hãy “thoải mái đi, vô tư đi.” Nuôi dậy con cái nên đồng nghĩa với việc bố mẹ được nghỉ ngơi, vui cười, và mặc cho bọn trẻ chúng nó tự học hỏi bảo ban nhau…, tác gia người Anh Tom Hodgkinson khuyến khích như vậy, trong cuốn sách của anh “Cha mẹ ngồi đó: làm ít hưởng nhiều trong nuôi dạy con cái.” Phương pháp của anh đại thể là: hãy để trẻ con tập hiếu động, cho chúng ra sân còn mình thì đóng cửa lại nghỉ ngơi, cho chúng vào rừng và ra cánh đồng, bật nhạc lên trong nhà và làm sao cho vang tiếng hát hò, trò chuyện mỗi buổi chiều về…

Những ngày cuối tuần phải chăng nên để cho trẻ con tự tiêu khiển, xem TV chẳng hạn, đọc sách,… để bố mẹ được ngủ thêm cho đẫy giấc. Hãy để chúng có nhiều thêm thời gian  nhảy múa, chơi nhạc, phát triển trí tưởng tượng, tình cảm và mức độ tự giác. Còn các bậc cha mẹ, hãy quên đi vai trò “hy sinh” hay “đắm đuối cá chuối…”, hãy bỏ thói “đầu tư cho tương lai con cái” hãy bỏ luôn nhận thức “đời là bể khổ…”, để hưởng những phút giây thực của bản thân mình.

Lê Minh

GIA ĐÌNH

Praha 10.10.10

“Em làm ăn ở Tiệp này cũng được lâu lâu. Có bạn có bè. Tiền cũng vừa đủ. Con cháu lớn đã vào đại học. Rồi hai thằng sau sẽ vào trường cho ngon lành. Vợ em thỉnh thoảng đi ra trông nom cửa hàng cho đỡ buồn,” thương gia Hùng, 44 tuổi, em của người bạn thời phổ thông, kể với tôi trong ngôi nhà 4 buồng ngủ của cậu ở ngoại ô Praha, cách đây vài tuần. “Em rất nể những tay đại gia thực sự, có nhiều tiền nhưng giữ được gia đình, con cái làm lụng học hành đâu vào đấy.”

Nghe tôi gọi điện lúc sang Praha, Hùng mời ngay cả nhà tôi, bốn người, về nhà ăn cơm. “Em gọi cho vợ rồi, y bắt đầu nấu rồi!”

Trước đó, về thăm Hà Nội, hầu hết bạn bè đều cố kéo tôi về nhà họ ăn cơm. “Cho lành, rau sống rửa sạch,” họ nói. Họ sợ “Việt kiều” Minh và tùy tùng yếu bụng? Cũng không hẳn. Họ chẳng muốn đi nhà hàng vì đắt đỏ máy chém? Cũng không hẳn, tiền họ không thiếu, nhà hàng “ruột” của họ cũng xịn lắm, sạch và đúng giá. Thực ra, phần nhiều bạn tôi muốn xum họp ở nhà cho thoải mái, uống mấy cũng được, ngồi bao lâu cũng xong, không lo mất xe. Cái này rất hợp với Minh và đồng đội.

Rồi bạn bè tôi, cả người Việt lẫn không Việt ở Singapore, châu Âu, Úc cũng thế. Họ gắn tôi vào sinh hoạt gia đình cùng họ. Cùng ăn, cùng trò chuyện hay tranh luận. Giá trị gia đình, tây cũng như ta, thường trùng với hình ảnh quây quần quanh mâm cơm cuối ngày.

Ở phương Tây, các nhà tâm lý nay tuyên truyền trong giới bình dân và lao động về tầm quan trọng của bữa ăn tối, quy tụ mọi người trong nhà với nhau. (Giới thượng lưu phương Tây xưa nay chưa bao giờ sao nhãng giá trị gia đình). Trong bữa tối, mọi người chăm chú kể cho nhau họ làm được những gì trong ngày. Ai có chuyện vui thì kể ngay, ai có chuyện buồn thì cũng lựa lời khéo léo tâm sự. Chuyện buồn quá thì hoãn, để sau bữa ăn cùng bàn cách giải quyết. Nhiều gia đình thực hiện nguyên tắc không nghe điện thoại, tắt máy tính, TV và game. Trước bữa ăn có ai gọi thì xin lỗi, để ăn đã rồi chúng tôi gọi lại.

Giới thượng lưu phương Tây xưa nay chưa bao giờ sao nhãng giá trị gia đình

Phong tục ở phương Tây là tránh gọi điện vào giờ ăn cơm và không liên lạc về công việc trong giờ riêng tư vào buổi tối. Tất nhiên có ngoại lệ dành cho cảnh sát, bác sĩ, nhân viên cấp cứu và các viên chức chính phủ trực ban. Các chính trị gia ở phương Tây cũng thường có thể bị báo chí và đồng nghiệp truy hỏi bất cứ giờ nào trong ngày – họ bị buộc phải nghe điện thoại.

Thực ra khái niệm xum họp gia đình ở phương Tây cũng không mới. Thời những năm 50 và 60, sau chiến tranh Thế Giới II, kinh tế nghèo khó, thành viên các gia đình ở châu Âu phải quy tụ với nhau chia sẻ tiết kiệm và đùm bọc. Nước Mỹ, hợp chủng quốc của di dân từ mọi miền trên thế giới, luôn luôn phổ quát giá trị và hình tượng gia đình. Vì mục đích tranh cử và lấy lòng dân, tổng thống Mỹ bao giờ cũng xuất hiện với hình ảnh và sự hỗ trợ đắc lực của Phu Nhân và dòng họ.

Trong xã hội hiện đại và toàn cầu hóa ngày nay kinh tế khấm khá hơn nhiều, nhịp sống công nghiệp, cạnh tranh quyết liệt, chịu đựng ô nhiễm trong môi trường (và trong tình người) đã nhiều, nên mọi người giật mình sực tỉnh. Mọi người nay bảo nhau quay lại gìn giữ cho được giá trị gia đình, che chắn những sóng gió bon chen ngoài đời. “Xum họp ngày nay cũng là để giảm đi cơn nghiện game điện tử của các cậu ấm và cô chiêu suốt ngày ngồi máy,” một ông bố ở vùng Tring, Midland, Anh quốc, tâm đắc. “Xum họp gia đình và tâm lý được đùm bọc và yêu thương, cũng khiến cho người ta giống như được sạc pin, lấy lại sức để hôm sau còn ra thương trường, đối phó với địch thủ, với sếp lớn sếp nhỏ hay giao tiếp với khách hàng.”

Các nhân viên tuyển dụng của các công ty lớn và thành công bao giờ cũng nhấn mạnh giá trị gia đình trong cuộc sống của người lao động. “Công việc chỉ là một phần của cuộc đời, cuộc sống đứng cao hơn và đứng ngoài công việc rất nhiều.” Những nhân viên thành công trong các tập đoàn lớn là những người có lối sống hợp với công việc của họ, hoặc ngược lại, công việc hợp với phong cách sống của họ. Chính vì thế trong các cuộc phỏng vấn hiện nay, ban tuyển dụng thường hỏi sâu về hoàn cảnh gia đình và sở thích cá nhân của người nộp đơn. “Huấn luyện nghiệp vụ của công ty nhiều khi không khó bằng việc “lắp đặt” nhân viên mới vào việc cho hợp người hợp cảnh, để ‘hắn’ hăng hái, sáng tạo và không chóng chán,” theo lời Susi, chuyên viên về nhân sự ở London.

Khái niệm Gia đình cũng rất phổ biến trong các môi trường công tác hiện đại. Chỉ huy cảnh sát ở Sydney hay đội trưởng biệt động của Anh ở Afghanistan coi các chiến sĩ của mình là thành viên gia đình. CEO của công ty máy tính, các tập đoàn lớn, cũng mệnh danh nhân viên của họ là người nhà. Công nhân mỏ, nhân viên may vá trong các xưởng may thêu ở khu Việt Nam ở Melbourne cũng thường đùm bọc nhau chẳng khác người thân. Gia đình cũng có thể hiện thân trong một đội bóng đá, đội đua thuyền… Những cách gọi và ứng xử mang tính gia đình như vậy ngày càng trở nên tự nhiên, không còn nhiều chất khách sáo.

*

Mười năm trước đây, khi Việt Nam còn ngập tràn không khí nhậu nhẹt và bồ bịch ngoại hôn, có người bạn tôi phàn nàn, “cứ chê bọn Tây sống gấp, sex gấp, còn dân Á mang tính cộng đồng, có nhiều tình người và quan hệ gia đình. Xạo hết. Cứ thử nhìn vào gia đình Anglo ở bên Anh, Đức hay Pháp mới đáng nể. Chồng giúp vợ, bố mẹ giúp con cái, con cái tâm sự với cha mẹ… thấy mà thèm.”

Đến năm nay 2010, cũng anh bạn Việt kiều Mỹ ấy phán, “dân ở Việt Nam bây giờ điềm đạm hơn nhiều, nhậu vẫn đều, nhưng thường ở nhà thôi. Và có vẻ như họ đang cố kéo lại điều họ suýt đánh mất – tình gia đình.”

Lê Minh

10/2010


Người Úc ấm ức về cách người Pháp uống rượu

Hôm trước  đọc vội ở đâu đó bài báo của tác giả Úc, báo The Australian, muốn tải vội một vài ý chính ra đây hầu bè bạn. (Đầu đề tự đặt.)

Dò đường: Khách Úc ở Paris

Tác giả bài báo thừa  nhận về mặt rượu bia thì người Pháp là thầy người Úc. Vì sao?

Người Pháp uống rượu đều đặn, thường là vang, phần nhiều vang đỏ/ Người Úc (lúc có  rượu lúc không), uống xô bồ, lấy được, tu bia ừng ực.

Người Pháp nhâm nhi cùng mồi ngon (ở Pháp, nếu mời uống mà không có kèm  đồ nhắm thì bị coi là xúc phạm bạn/khách.)
Úc hay uống lúc bụng đói, đồ nhắm nghèo nàn, đồ ăn cục mịch.

Người Pháp uống thường ngồi trong bar yên ả, rượu đi với tâm sự, lãng mạn/ người Úc uống trong pub ồn ào, uống  đứng,  vừa tu rượu vừa “NỔ!” – Rượu thừơng kéo theo SEX rồi Hangover, rồi quên lãng…, lờ tịt.

Dân Pháp uống nhiều rượu mà ít người bị phì nộn, tim mạch, chung quy là lại đồ ăn ngon, tiêu ruợu/  Người Úc,  ngày càng phì nộn, tim mạch tới tấp.

Người Pháp uống nhiều mà không thấy ra đường đánh nhau /

Úc cho thấy tội phạm bạo lực ngày càng tăng trong vòng bán kính các quán rượu.

Ở Pháp ít thấy tai nạn giao thông do rượu bia hơn ở Úc.

Úc cấm, hạn chế, phạt chuyện bán rượu tràn lan, nhưng không giảm được tệ nạn – trong khi ở Pháp bia/rượu vang được bán rộng rãi, chỗ nào cũng có, kể cả trong cafe, khiến mọi người có nhiều lựa chọn, uống gì cũng được, chẳng thiếu thốn, chết thèm.

LM

P/S: Bổ sung:

Đã có hiện tượng dân Úc chuyển sang uống vang, thay bia, vì sợ vòng bụng dôi dư nhanh.

Ở Úc khi nâng ly chuốc rượu thường không thấy nhắc gì đến “sức khỏe”.

Người Việt có vẻ học được cả người Pháp lẫn người Úc, mỗi bên một ít!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.