[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Thursday, April 17, 2008

Mot goc nhin ve cho chung khoan

MỘT GÓC NHÌN VỀ CHỢ CHỨNG KHOÁN

Phạm Duy Nghĩa (NQL 4/2008)

Sáu năm gần như tập dượt èo uột, năm thứ bảy nhảy nhót với những lướt sóng ồn ào, năm thứ tám đột ngột ủ rũ, chợ chứng khoán Việt Nam bị xô đẩy bởi đủ loại tin đồn. Như xem lại một bộ phim quay chậm, bài viết dưới đây góp vài thiển nghĩ và một cách nhìn về cái thị trường có vẻ vừa xa lạ, vừa đỏng đảnh này.
Dù đã biết chút chút đỏ đen hụi họ, số đông người nước ta tập làm quen với chợ vốn từ thuở quỹ tín dụng mọc nên như nấm. Lãi cao rồi tan vỡ, sự sụp đổ của các quỹ tín dụng hơn 20 năm về trước đã giáng một cú trời giáng vào niềm tin của người dân vào kiểu huy động vốn rộng rãi hứa trả lãi của người kinh doanh. Từ các doanh nghiệp gia đình các công ty đã mọc lên. Dù tên gọi là cổ phần hay hữu hạn, song nếu các thành viên đều là thân hữu, việc chuyển nhượng vốn đều lọt sàng xuống nia giữa những người quen, các doanh nghiệp ấy vẫn chưa có dáng dấp các công ty thực sự. Được nhà nước dựng ra từ năm 2000, song hồi lâu ít hàng, không kẻ mua người bán, chợ chứng khoán đìu hiu là điều dễ hiểu.
Khi cổ phần, được xác nhận bằng cổ phiếu, có cơ hội tự do chuyển đổi; khi lòng ham muốn mau chóng làm giàu từ mua đi bán lại cổ phiếu được khuấy động náo nhiệt bởi những cò chứng khoán, bởi những báo chí quen rút tít và giật dây mà ít phải chịu trách nhiệm về lời lẽ của mình, chợ chứng khoán bỗng sôi réo mau lẹ. Khách chen chân mở tài khoản, nhiều công ty chứng khoán làm cao, lời lãi trên giấy thành tiền tươi, nhà sang, xe xịn. Cơn khát kiếm tiền đổi nhanh thành sóng thành gió, nông dân, người thợ, có chút để dành là người ta thành cổ đông, một nghề mới-nhà đầu tư-đã ra đời.
Một năm sôi réo bỗng giúp các ngân hàng ốm yếu xưa nay bỗng nở nang, vốn lấy từ dân cư trở nên rẻ hơn nhiều vay bởi các ngân hàng, một cuộc huy động vốn quy mô rộng rãi đã diễn ra tìm cách chảy vào khu vực kinh doanh. Một chợ với kỷ luật khắt khe của thị trường sẽ uốn dòng vốn đó vào những nơi hiệu quả, các công ty đại chúng với ngàn vạn cổ đông có cơ may xuất hiện, chúng ta thêm một lần gần hơn với chợ vốn toàn cầu.
Chỉ có điều, tính minh bạch của các công ty thấp, các báo cáo tài chính ít đáng tin cậy, các cổ đông có phần chưa quen phân tích rủi ro dựa trên chứng cứ mà vồn vã mua vào bán ra phỏng theo những tin đồn… tất cả những điều ấy đã làm cho tấm huy chương của chợ chứng khoán mau chóng chuyển gam màu. Rồi một ngày chợ ở Mỹ khó khăn, tiền đô-la nước ấy mất giá, mua nguyên liệu đắt từ Tàu, bán hàng rẻ sang Mỹ, thiệt đơn thiệt kép, doanh nghiệp xuất khẩu bắt đầu kêu. Nền kinh tế bay vào vùng thời tiết xấu, tin ấy lan nhanh, những cuộc tháo chạy khi chợ chứng khoán bước vào tuổi thứ tám cũng hỗn nhiệt chẳng khác gì khi tranh mua mua một năm về trước.
Đã dựng nên chợ rồi, nhà nước cỏ vẻ như đang sốt sắng muốn lấy tiền dân góp sức mua vào để cứu cái chợ ấy. Đó là một phản ứng hơn là một tầm nhìn. Quan trọng và dài hơi hơn là xây dựng các thể chế làm cho quản trị công ty trở nên minh bạch, cho kiểm toán tư nhân hoàn toàn độc lập, cho các giám đốc và nhà quản lý công ty buộc phải có trách nhiệm với cổ đông đã tin tưởng vào mình. Thêm nữa, Ủy ban chứng khoán phải là một thiết chế độc lập, tự chịu trách nhiệm về mọi hành xử của mình vì lợi ích của các nhà đầu tư, hơn là một đơn vị thuộc quyền của Bộ Tài chính.
Trồi sụt chứng khoán, những học phí bằng tiền của, nước mắt, và có thể là sức khỏe, tính mạng.. của từng nhà đầu tư hy vọng sẽ mang lại những cảm nhận mới về vai trò mà nhà nước cần phải giữ trong một thời buổi nền kinh tế đã trở nên rất tinh vi và khó điều tiết chỉ bởi các mệnh lệnh.

Nhan chuyen dang ban ve nong dan

VÌ NÔNG DÂN

Phạm Duy Nghĩa

Nhà nước là của dân, nhưng tự thủa nào người ta vẫn băn khoăn tự hỏi nhà nước ấy là của hạng dân nào. Cấm xe ba gác, hẹp đường xe máy thì rộng lối cho ô-tô, cấm hàng rong thì thênh thang cửa hiệu, khó cho đám thợ đình công thì giới chủ vừa lòng. Thì cũng thế, dân khôn khó trị, có thời nào người làm quan lại ưa bị đàn hạch, giải trình giữa chốn công khai.
Kính yêu nghiệp tổ, trong người Việt Nam nào mà chẳng có một chút nông dân. Kìa Nam chinh, Bắc chiến, xương máu dân cày bao đời nay đã tạo cho ai những lấp lánh hào quang. Kìa nhà máy- sân gôn, vì ai phì nhiêu mà nông dân bỗng một ngày thành ra thất nghiệp. Tiếng hú hoang dã của chủ nghĩa tư bản cướp bóc một thời thoảng lại tái hồi. Tiền mất giá, kinh tế khó khăn, phần da thịt đau rát trước tiên ấy cũng là nông dân nghèo và con em của họ. Nông dân-nông nghiệp-nông thôn, tam nông ấy đang cần tới những chính sách kịp thời.
Muốn có chính sách đúng và trúng vì nông dân, trước hết phải có tranh luận dựa trên thông tin trung thực. Người dân quê muốn biết ngân sách và tài sản quốc gia đã được chi dùng cho những việc gì và nông thôn được lợi gì từ những khoản chi tiêu ấy. Dồn tiền cho bệnh viện trung ương thì tiêu điều y tế dự phòng; phố sáng đèn với những con đường “đắt nhất hành tinh” thì đôi khi xóm làng quạnh hiu đèn dầu chỉ còn người già và con trẻ. Có vẻ như trong cơn lũ công nghiệp hóa, mất đất, mất luôn cả nghề, song nông dân được lợi gì vẫn là câu hỏi đau đáu đợi trả lời.
Khi được truy hỏi công khai, người ta có thể sẽ tìm thấy nhiều hướng giải đáp. Không hiếm doanh nhân có tâm và đầy sáng kiến với nông dân, hãy cho họ cơ hội cạnh tranh để tiệm cận các dự án, các gói thầu.. hơn là ưu tiên tiêu tiền cho các tập đoàn quốc doanh hầu như chỉ sống để khai thác độc quyền. Linh hoạt dồn thửa và tích tụ đất đai, tự nguyện thương thảo để góp đất thành cổ phần trong các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thoát khỏi những hạn chế hành chính khiên cưỡng, người nông dân có nhiều cơ may đứng vững bằng chính sự tự do của họ. Chính phủ đang nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh đối với doanh nhân, thì cũng thế muốn xây dựng chính sách tam-nông, cần rà soát các rào cản và gánh nặng của nền hành chính đối với nông dân. Bỏ qua những việc ấy, miếng bánh hỗ trợ nông nghiệp có khi rơi vãi gần hết ở các công ty quốc doanh trung gian bán gạo và nhập phân bón để ăn lãi từ hạt thóc của nông dân.
Sau khi tranh luận kỹ lưỡng, mọi chính sách vì nông dân nên cụ thể, chiến lược, khả thi và đo lường được. Cụ thể, vì ngoài những lời hứa, nông dân cần thông tin canh tác và thương mại hóa nông sản của mình cho hiệu quả, họ cần tới những thể chế hỗ trợ thích hợp. Chiến lược, vì nông dân không chỉ cần tới miếng ăn, tấm áo tức thời, điều họ cần là sự bình đẳng về cơ hội. Một dúm tiền bồi thường đâu dễ giúp nông dân thành thợ có nghề, họ cần chiếc cần câu hơn là con cá. Khả thi, bởi đô thị hóa và công nghiệp hóa là xu thế thời đại, dân số sống bằng nghề nông ở nước ta buộc phải giảm. Ly nông là điều khó tránh khỏi, song cần giúp nông dân bớt gánh nặng ly hương và ly tán gia đình. Đo lường được, bởi người dân cần có thước đo để đánh giá chính quyền khi thực thi những chính sách tam-nông.

Khác với Phương Tây, lịch sử Việt Nam đã nhiều lần ngầm chỉ ra rằng ai giữ được nông thôn thì người ấy sẽ giữ được chính quyền. Khi nông dân nghèo túng, cái số đông ấy mà bất an thì thiểu số giàu có cũng khó an thân. Chính quyền, bên cạnh khuyến khích làm giàu, lại càng phải thể chế hóa sự sẻ chia. Chính sách tam-nông đang được nghiên cứu hy vọng sẽ khởi đầu cho những cố gắng ấy./.