[Ga: een map omhoog, voorpagina, ]

Saturday, January 1, 2011


Bóng dáng tàu chiến Trung Quốc từ đảo Hải Nam nhìn xuống Phương Nam. Con rồng hung dữ bắt đầu hăm dọa, Năm mới 2011.

Friday, December 31, 2010

Hanh trang vuon toi quoc gia cong nghiep


HÀNH TRANG VƯƠN TỚI MỘT QUỐC GIA CÔNG NGHIỆP


Bước vào năm 2011, người nước ta còn đúng một thập kỷ để thực hiện mơ ước trở thành một quốc gia công nghiệp. Cảng biển, khu công nghiệp, tàu cao tốc, mọi văn minh vật chất có thể dành dụm hoặc dựa vào tiền vay mà dựng lên nhanh chóng. Song một quốc gia công nghiệp còn cần tới phong cách ứng xử công nghiệp. Nhà nước, người dân, mọi phần tử trong xã hội phải tin được vào những chuẩn mực ứng xử bền vững. Năm mới cũng nên là một dịp để chiêm nghiệm lại hành trang của người dân nước ta trước khi ngấp nghé trở thành công dân của một quốc gia công nghiệp.

Kỷ luật thị trường và tập đoàn

Từ hai chục năm nay chúng ta lại yêu kinh tế thị trường. Ồn ào giữa chợ, rượt đuổi theo lợi nhuận, người thắng kẻ thua, nửa triệu doanh nghiệp đủ loại ganh đua nhau giành lấy trái tim khách hàng. Nhớ lại một thời bao cấp chưa xa, với bộ máy kế hoạch Nhà nước đã nghĩ thay người sản xuất và nghĩ thay cả cho người tiêu dùng. Thật vĩ đại, kỷ luật thị trường đã thay đổi đáng kể nếp nghĩ trên đất nước chúng ta.

Thay vì cai trị, để phục vụ nhân dân được tốt hơn, từ chỗ quản lý hàng vạn xí nghiệp quốc doanh nay nhà nước đã thu hẹp phạm vi kinh tế quốc doanh, chỉ còn giữ lại 12 tập đoàn và khoảng 1500 doanh nghiệp, hết thảy được ép phải chơi cùng một luật chung với dân doanh. Đồng thời bộ máy công vụ đang tách dần ra khỏi khu vực hành chính sự nghiệp, công chức tách dần khỏi viên chức. Một nhà nước ôm đồm đang làm cuộc tự lột xác không hề dễ dàng để trở thành một nhà nước nhỏ hơn, nhưng năng động hơn, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn.

Chỉ có điều, số lượng tuy giảm, song 12 tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn được ưu ái vốn và nguồn tài nguyên, riêng vốn cho Vinashin đã lên tới 113 nghìn tỷ đồng, tức là gấp trên 100 lần ngân sách của một tỉnh quy mô nhỏ như Đồng Tháp. Năm 2010, người ta không thể quên Vinashin, một tập đoàn thua lỗ, phơi bày ra những lỗ hổng đáng báo động về trách nhiệm quản lý vốn nhà nước đầu tư cho các công ty quốc doanh. Chỉ có được những nguồn tin thứ cấp, một khối tài sản lớn của quốc gia được giao cho những thành viên hội động quản trị công ty mà thiếu vắng những thiết chế giám sát hiệu quả.

Vinashin không chỉ là câu chuyện trả 86 nghìn tỷ đồng nợ khó đòi. Lấy tiền dân đầu tư vào các tập đoàn, tiền ấy không phải của nhà nước, càng không phải của cá nhân các quan chức. Giao tất cả tài nguyên quốc gia cho nhà nước quản lý, ông chủ nhân dân phải làm gì để giám sát chính quyền. Vinashin thua lỗ, Quốc hội, Chính phủ và các bộ đều có phần lỗi, song chưa có cơ sở để quy rõ hơn trách nhiệm thuộc về ai, một nhu cầu sắp xếp lại nền quản trị quốc gia đã trở nên bức bách.

Sở hữu tư nhân và công bằng xã hội

Hai thập kỷ tái khởi động nền kinh tế thị trường đã làm sống lại sở hữu tư nhân. Những ông chủ đang thay khuôn mặt mới. Bùn đỏ từ khai khoáng xuất hiện ở Cao Bằng, rừng biên giới ở Lạng Sơn được cho người nước ngoài thuê, đất Ba Vì lên cơn sốt, bờ sông Sài Gòn tới những bãi biển miền Trung bị khoanh thành của riêng, tránh tư nhân hóa song trớ trêu thay chúng ta lại mở cửa cho tài nguyên quốc gia đôi khi được khai thác thiếu kiểm soát vì lợi ích tư nhân.

Khi kinh tế tư nhân đã chiếm tới 48% GDP, đã tới lúc phải nhìn nhận lại vai trò của sở hữu công cộng và sở hữu tập thể của các hợp tác xã. Nếu tiếp tục đề cao công hữu, do khả năng quản lý kém, của công có nguy cơ ngấm ngầm biến thành tư. Tích lũy tiền bạc lâu ngày sẽ trở thành sức mạnh, tới khi cái võ cũ bị đục rỗng, một trật tự của cường lực và những đặc quyền mới sẽ lộ diện.

Một quốc gia công nghiệp phải là một chế độ có nền công lý đảm bảo tự do của mọi người dân, tức là phải có một chế độ pháp quyền. Luật pháp dày đặc, song nếu chúng chỉ nhằm thay thế danh tước những ông chủ một cách tân thời, thì nguồn lực trong quốc gia vẫn bị kiểm soát bởi những nhóm lợi ích đặc quyền. Khi ấy lợi ích tư nhân thắng thế, hệ thống nhà nước và luật pháp trở thành pháo đài chiến lũy bảo vệ người có quyền và thế lực, ngăn cản quyền tiệm cận nguồn lực và thi thố tài năng của bất kỳ ai. Nếu điều ấy xảy ra, cũng tựa như vô số nước đang phát triển khác, chúng ta có nhà máy lọc dầu và có thể có đường sắt cao tốc, song chưa có nền tảng ứng xử công bằng của một xã hội công nghiệp.

Xã hội công dân

Từ năm 2001 Hiến pháp nước ta được sửa đổi, bổ sung thêm một quy định rằng Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Luật pháp đã được ban hành nhiều, song vẫn còn rất nhiều việc phải làm để hướng tới một xã hội thượng tôn pháp luật. Kinh tế thị trường không còn nghi ngờ gì nữa đã cởi trói cho sở hữu tư nhân. Song càng khuyến khích kinh tế tư nhân, càng phải có một nhà nước mạnh để phân bổ phúc lợi và sự thịnh vượng trong quốc gia một cách công bằng.

Nhà nước thường chỉ mạnh khi người dân ý thức được quyền và trách nhiệm công dân, tìm cách kiểm soát, giám sát chính quyền. Năm 2010 đã xuất hiện những vụ kiện Bộ Công thương vì thông tư của Bộ có dấu hiệu trái luật, gây thiệt hại tiền tỷ cho doanh nghiệp hoặc người dân khởi kiện chính quyền địa phương do “lô cốt” cản trở việc kinh doanh của họ. Cứ đà ấy, “quy hoạch treo, hố tử thần” một ngày kia có thể trở thành những vụ kiện khi người dân học được cách chất vấn và truy tìm trách nhiệm của chính quyền.

Từ văn hóa cho đến pháp luật

Dùng văn để giáo hóa, dùng văn để trị, nôm na hành xử văn hóa tức là tập ứng xử như một con người xã hội. So với cách hiểu ấy, hai chữ văn hóa ngày nay đã thay đổi nhiều. Như một ngành thực hiện quản lý nhà nước, năm 2010 diễn ra vô số sự kiện văn hóa và phi văn hóa. Sự kiện lớn 1000 năm Thăng Long đã qua. Tự hào vì thủ đô cũng như vô số các đô thị mới phát triển nhanh, ngày càng mới, song để đô thị đẹp hơn, xanh hơn, sạch hơn, biết nâng niu những giá trị cổ truyền, để mỗi con người sống trên đất đô thị ứng xử với nhau văn hóa hơn, hình như còn ngổn ngang những việc phải làm.

Năm 2010 cũng là năm mà người sành điệu tân thời được cung cấp vô số mẩu phim phản cảm trên Internet, từ cô bảo mẫu dội nước vào mặt, tắm cho trẻ bằng chân, bé Hào Anh bị hành hạ, cho tới nhan nhản bạo lực nơi học đường. Văn hóa tức là cách người ta hành xử, nhân nào quả đấy, có biết bao nhiêu căn cớ để lý giải vì sao con người ta hành xử thì cũng có bấy nhiêu cội nguồn nhào nặn ra văn hóa của con người nước ta. Hãy giải thích vì sao dân tộc chúng ta hầu như chưa quen xếp hàng, chưa quen tuân thủ luật lệ giao thông, chưa tự giác xả rác đúng nơi quy định. Như lá cành thân rễ, từ muôn đời nay đời sống tư tưởng, tâm linh, tôn giáo, thói quen, tục lệ và pháp luật, hết thảy những quy phạm xã hội đa dạng ấy đã tựa như một cái cây vững chãi tạo nên văn hóa của người dân nước ta.

Muốn đạt tới cách ứng xử văn minh trong một quốc gia công nghiệp, không thể thụ động chờ tập quán người dân nước ta tự diễn biến, tự đổi thay. Từ truyền thống văn trị, phải cần tới một trật tự pháp trị rõ ràng, lấy những chuẩn mực pháp luật nghiêm minh làm thước đo thay đổi hành vi con người. Hướng tới một quốc gia công nghiệp, nếu định hướng hành vi ứng xử văn hóa trở nên khó khăn và thiếu cụ thể, phải định hướng hành vi con người theo những chuẩn mực cụ thể của pháp luật, dần dà con người văn hóa sẽ được định hình dần theo.

Hai thập kỷ đổi mới theo kinh tế thị trường cũng là hai thập kỷ văn bản luật trên giấy tăng nhanh theo thời gian. Song từ luật trên giấy cho đến luật ngoài đời còn quá nhiều vênh lệch. Không thể áp dụng những tiêu chuẩn kép, luật pháp phải công bằng, áp dụng công khai cho mọi đối tượng, không phân biệt lý lịch, thành phần xuất thân. Khi pháp trị được thiết lập, qua năm tháng những tín hiệu này sẽ tác động ngược trở lại hành vi ứng xử có văn hóa của người dân.

Một thập kỷ mới đang tới. Trở thành một quốc gia công nghiệp, ngoài những chỉ số kinh tế lớn lao, cũng có nghĩa thật giản dị rằng người dân nước ta phải biết dừng trước đèn đỏ và nhường nhịn khi tham gia giao thông. Từ thái độ ứng xử của từng người dân tới người có quyền cao chức trọng, trong một quốc gia công nghiệp quan chức phải từ chức khi mất tín nhiệm của cử tri Cũng như vậy, nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người dân về mọi thiệt hại gây nên bởi hành vi quản lý yếu kém của mình. Để có được một quốc gia như vậy, ngoài kinh tế thị trường, trong hành trang vươn tới văn minh, dân tộc chúng ta rất cần một chế độ thượng tôn pháp luật và nhiều hơn nữa tinh thần công dân.

Tuesday, December 28, 2010

Suc ep nghien cuu voi nghe thay giao


SỨC ÉP NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI NGHỀ THẦY GIÁO


Với quyết định không tuyển người có bằng tại chức vào bộ máy chính quyền, TP Đà Nẵng đã bắn một phát súng cảnh cáo nền giáo dục Việt Nam. Tuyển lựa nhân viên là quyền của người dùng, công sở cũng như doanh nghiệp. Nếu người Việt không dùng hàng Việt, chớ vội trách dân ta không yêu nước. Điều đáng bàn là nền giáo dục nước ta, từ mầm non mẫu giáo cho tới đại học và sau đại học, hết thảy đều tựa như mắc lỗi với những bậc phụ huynh mong ngóng con cháu mình được học thành tài. Người mắc lỗi cũng là những thầy giáo đại học, chúng tôi dường như đã không thể cung cấp một dịch vụ đào tạo xứng đáng với mong đợi của những người sinh viên trẻ tuổi.


Sự thật ấy có nguồn cơn từ sức ép phải có một thu nhập đủ để nuôi gia đình trong một tình trạng tương đối tươm tất. Đứng trước những người học ngày càng khá giả, nếu thầy cô giáo là những người nghèo túng, xin tha lỗi không thể nhân danh mọi lý tưởng xa xôi, sự tự tin và chính danh của người dạy trở nên hết sức mong manh. Vì sức ép ấy, cuộc hành trình quen thuộc của những người thầy là bươn chải giữa kẹt xe trên đường phố, từ lớp nọ chuyển tới lớp kia trong triền miên ngày tháng. Dạy học không chỉ là đứng lớp, một giờ giảng tốt trên lớp thường cần tới hàng chục giờ chuẩn bị bài giảng, sưu tầm tư liệu, theo dõi lớp, chấm bài ở nhà. Không có trợ giảng, người thầy ở Việt Nam phải làm tất cả mọi công đoạn cần cho một môn học, từ chuẩn bị đề cương cho tới ký vào tờ điểm thi cuối cùng và giải quyết thắc mắc của sinh viên.


Vì không còn nhiều thời gian và sức lực cho nghiên cứu, kiến thức của người thầy theo năm tháng có thể sẽ cũ dần. Thế giới biến đổi nhanh, sau ít năm gặp lại giảng viên đại học, người cử nhân thạo nghề có thể chỉ còn cảm giác mến thương tựa như trò cũ gặp lại thầy cô thời tiểu học thơ ấu của mình. Trong một thế giới đầy ắp thông tin, trước những người học ngày càng hiểu biết và có quyền yêu cầu chất lượng cao hơn, đứng trước nguy cơ mọi giờ giảng đều có thể bị ghi âm quay hình và đưa lên mạng bất cứ lúc nào, nghề thầy giáo đã trở thành nghề đầy áp lực tựa như mọi nghề khác trên đời này. Bên cạnh những cuộc tôn vinh ầm ỹ, bởi vậy xin hãy dành cho nghề giáo trước hết là sự cảm thông, chia sẻ.


Cải cách nền giáo dục, ngoài những chủ trương to lớn đã được bàn luận nhiều, người ta cho rằng đại học phải trở thành nơi nghiên cứu; giã từ thợ giảng, người thầy phải là nhà nghiên cứu. Không muốn rơi vào ảo vọng, trong bối cảnh khá chật chội về quỹ thời gian và tiền bạc dành cho nghiên cứu hiện nay, tôi cho rằng người giáo viên đại học ngày nay vẫn có thể tổ chức nghiên cứu ở quy mô rất khiêm tốn, tựa như duy trì một ngọn lửa nhỏ, nhẫn nại và dai dẳng, ngày qua ngày tìm kiếm những cái mới để nuôi dưỡng tinh thần vui mà giữ lấy nghề. Muốn làm được điều ấy, mỗi người một cách, người thầy phải tìm những đối sách phù hợp để lo liệu việc nghiên cứu nhằm cứu mình trước nguy cơ trở nên lạc hậu trong thế giới biến đổi nhanh này.


Từ góc nhìn hạn hẹp của người làm nghề dạy học, theo thiển nghĩ của tôi, có thể thảo luận những kinh nghiệm tản mạn dưới đây giúp giảng viên đại học vẫn gắng nghiên cứu được trong bối cảnh hiện nay:


Thứ nhất, tận dụng hiệu quả ngân sách mà nhà trường cho phép. Hàng năm trường đại học nào cũng có những khoản ngân sách, dù có thể còn khiêm tốn, cho hoạt động nghiên cứu. Một đề tài, tùy theo cấp quản lý, có thể được cấp từ vài chục triệu cho đến hàng trăm triệu đồng. Học vị và chức tước càng cao thì cơ may nhận được dự án hoặc chuyên đề nghiên cứu càng lớn. Với thầy cô giáo trẻ tuổi, nên tận dụng mọi cơ hội đăng ký những đề tài dù là nhỏ nhất, kinh phí nên chắt chiu đủ để hoàn thành một bài báo, cho tới tham gia cộng tác trong những đề tài lớn. Qua năm tháng, giảng viên sẽ tích lũy được kinh nghiệm chọn lĩnh vực nghiên cứu, cách thức tổ chức nghiên cứu, cách tận dụng kinh phí eo hẹp để “thâm canh, tăng vụ” tận thu từng kết quả nghiên cứu tạo nên thế mạnh cá nhân của mình.


Thứ hai, chấp nhận và vượt qua những khó chịu về thủ tục hành chính trong nghiên cứu. Có được một chút kinh phí đã khó, tiêu được nguồn tiền ấy một cách hợp thức đôi khi lại càng khó hơn. Đôi khi người ta buộc phải kê khai những khoản chi tương đối lắt léo để tuân thủ đúng các quy định khá cứng nhắc về quản lý ngân sách nghiên cứu. Tiểu xảo này thường vướng với tự ái của người làm nghề chữ nghĩa. Thông thường, theo kinh nghiệm hạn hẹp của tôi, nhân viên các phòng kế toán và tài vụ có nghề hơn các giáo sư trong việc nghĩ ra cách chi tiêu tuân thủ quy định về tài chính. Khôn ngoan nhất là nên dự liệu một phần kinh phí trong kinh phí của đề tài để ủy quyền cho chính các nhân viên này giúp hợp thức hóa các khoản chi. Như thế việc giải ngân và quyết toán trở thành một phần riêng, có người chuyên nghiệp lo, người thầy chỉ lo vào việc tổ chức nghiên cứu.


Thứ ba, tận dụng cơ hội tham gia các hội thảo chuyên ngành. Một tuần đọc sách không bằng một giờ gặp gỡ và nghe đồng nghiệp chia sẻ thông tin. Dù đã có lời chê rằng trong giới học giả đã xuất hiện những giáo sư phòng khách, làm nghề đi dự hội thảo, song với giảng viên và người nghiên cứu trẻ, hội thảo là một cơ hội thú vị để thu thập kiến thức, thông tin, làm quen và thiết lập các mối quan hệ cần cho việc nghiên cứu. Chắc đã qua rồi cái thời người ta đến với hội thảo mong nhận được “phong bì tiền tham dự”, nếu có cơ hội, nên tham gia hội thảo một cách chủ động với những câu hỏi và mong muốn tìm hiểu thông tin được chuẩn bị trước.


Thứ tư, đừng xấu hổ, hãy học ngay từ học trò của mình. Người ta đang chê bai ầm ỹ chất lượng của hệ đại học tại chức, song nếu khéo léo tổ chức, người thầy có thể học được rất nhiều từ những học sinh tại chức với kho kinh nghiệm thực tiễn đa dạng của họ. Nếu thiết kế chương trình giảng gồm những phần giới thiệu của giảng viên và những chùm đề tài tự nghiên cứu từ thực tiễn của học viên, trong vai một người nghe tích cực, điều đáng ngạc nhiên là người thầy có thể học được rất nhiều từ trò của mình. Điều này đúng với mọi đối tượng học viên, kể cả những người trẻ tuổi vừa mới bước vào trường đại học. Những góc nhìn của họ về cuộc đời và đạo làm người đôi khi như những gáo nước lạnh làm tỉnh giấc những thế hệ cha anh vốn bắt đầu quen sống theo những quán tính dần trở thành cũ và thân thuộc của mình.


Thứ năm, xuất bản hay là chết. Câu này tôi vay từ giới nghiên cứu ở Mỹ, khi họ thường đùa publish or perish. Bắt đầu bởi những chủ đề nhỏ và chuyên sâu, những thầy cô giáo trẻ tuổi phải tập có tiếng nói trên văn đàn khoa học, dù từ những góc nhìn thuở ban đầu còn hạn hẹp và chưa thể nhuần nhuyễn. Phải bắt đầu công bố nghiên cứu của mình, dù bằng cách đọc tham luận tại hội thảo nhỏ, hay gửi đăng tác phẩm trong tạp chí của nhà trường, của hiệp hội chuyên ngành cho tới các tạp chí có phạm vi rộng hơn. Trước khi gửi bài nghiên cứu để công bố nên đọc kỹ các thể lệ gửi bài, nếu có thể nên tham khảo ý kiến của Ban biên tập. Đừng nản chí, sau khi có bài nghiên cứu, chắc chắn sẽ có những diễn đàn phù hợp để công bố ý tưởng của người nghiên cứu. Cuộc đời này ồn ào, song đều có những không gian và giây phút tĩnh lặng lắng nghe dành cho tất cả.


Thứ sáu, hãy là chính bạn. Đạo đức nghiên cứu đang là một chủ đề phiền toái hiện nay khi đạo văn đôi là một thói xấu chưa bị lên án đủ mạnh. Nghề thầy tựa như nghệ sỹ, tác phẩm của họ là khuyến khích sự tự học của những cá thể người học hàng triệu người chẳng ai giống ai. Cũng như giọng ca của bạn chỉ có một lần, riêng biệt và vĩnh viễn trên cõi đời này, tác phẩm nghiên cứu phải thể hiện công sức lao động, danh dự và nhân cách hết sức cá biệt, riêng tư của người nghiên cứu. Ý thức được điều ấy, người thầy tự tạo cho mình những chuẩn mực, những thước đo, những thang giá trị và tiến hành nghiên cứu với tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm cực kỳ cao. Theo thiển nghĩ của tôi, có vẻ đó cũng nên là một phần của chủ trương tự chủ đại học mà nền giáo dục của nước ta đang hướng tới.

Dường như Karl Marx vĩ nhân đã từng nói “không có bánh mỳ không có triết học”. Để giữ thăng bằng trong cuộc đời thời hiện đại, chung sống với áp lực của triền miên các giờ giảng và nỗi lo đến lớp với kiến thức ngày càng cũ dần, nghiên cứu trở thành một thách thức liên tục; triết học thành điều kiện để duy trì bánh mỳ đối với người làm nghề thầy. Thầy dám nghĩ thì trò mới ưa khám phá, như mầm cây nhích dần từng li thoát khỏi vỏ hạt, hy vọng thời của những đại học độc lập nghiên cứu mau đến với dân tộc chúng ta.