.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}
[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Saturday, April 7, 2012

HỒI ÂM CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG VỀ CHUYỆN “ĐẠO THƠ”?


Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: Nhà thơ Mai Bá Ấn, như anh nói trong Mail gửi cho tôi, là “người đã bảo bọc, giúp đỡ, làm chỗ tựa cho Nguyễn Ngọc Hưng trong suốt cuộc đời bệnh tật và cuộc thơ vượt lên bệnh tật. Em rất hiểu Hưng và tin ở Hưng.
Chuyện bài của Đặng Khánh Cường về chuyện “đạo thơ” này đã được giải quyết trước đây và nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh cũng đã được Nguyễn Ngọc Hưng  trao đổi rất kỹ. Không ngờ bây giờ lại trở lại chuyện này khiến người bạn đau khổ của em lại thêm một lần đau khổ.
Sự trùng hợp giữa hai bài thơ là có, như ta đã biết, nhưng mức độ như thế nào thì ta thử đọc kỹ lại xem…
E gửi anh toàn bộ những bài đã bàn về chuyện này trước đây, cùng những chia sẻ của bạn thơ để anh nắm rõ hơn sự việc. Và tha thiết mong anh, với uy tín của mình có những lời biện minh, làm rõ để cứu người bạn thơ đau khổ của em”.
Trước đây tôi chưa được đọc những bài đã in dưới đây, nhưng sau khi đọc, tôi thấy có thể ĐKC đã trích dẫn sai, hoặc “lỗi đánh máy” của báo VN? Tuy vậy tôi vẫn thấy 2 bài thơ của 2 tác giả sao lại có nhiều từ, cụm từ, ý, tứ giống nhau đến thế. Theo tôi, đây là việc mà NNH và cả những người sáng tác cần rút kinh nghiệm.
 _______________________

THƯ NGỎ GỬI BAN BIÊN TẬP BÁO VĂN NGHỆ

Quảng ngãi, ngày 19/02/2009

Kính  gửi: Ban biên tập Báo Văn Nghệ

Tôi là Nguyễn Ngọc Hưng, tác giả bài thơ “Hoài khúc tháng ba” và cũng là đối tượng được ông Đặng Khánh Cường phê phán quyết liệt trên báo Văn Nghệ số 7 ngày 14/2/2009 qua bài báo “Một bài thơ tiếng Việt được dịch từ một bài thơ tiếng Việt”.
Hôm nay tôi viết lá thư này gửi đến Ban biên tập để bày tỏ một số nội dung sau:
1. Tôi rất cảm ơn ông Đặng Khánh Cường đã phát hiện ra điểm giống nhau giữa bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của tôi. Tối 13/2/2009, đêm trước khi báo ra, ông Đặng Khánh Cường có gọi điện thông báo cho tôi về bài phê bình của ông nhưng tôi không tin lắm vào sự “quá giống nhau” (như ông nói). Dù vậy, đêm đó tôi đã cố tìm trong trí nhớ là đã đọc bài thơ “khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh ở đâu chưa (với hoàn cảnh của tôi- bị bại liệt toàn thân- thì nguồn thông tin duy nhât là từ sách và báo chí). Suốt đêm ấy, tôi không ngủ được và cũng không tìm ra. Nhưng cũng không tin vào trí nhớ của mình, tôi và chị bạn tôi tiếp tục xới tung những chồng sách báo trong tủ sách gia đình mà vẫn không hề có thông tin gì về bài thơ trên hay tập thơ “Miền hoa dại”- nơi có đăng bài thơ. Tôi tin chắc rằng “sự quá giống nhau”, nếu có, thì chỉ là một sự tình cờ mà chính tôi cũng không lường trước được.
2. Mãi đến tối ngày 18/2/2009 khi có bài báo trong tay (nhờ một người bạn ở Hà Nội gửi vào), lần đầu tiên tôi mới được đọc tác phẩm “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh được trích dẫn trong bài viết của ông Đặng Khánh Cường. Chính tôi cũng bàng hoàng vì sự giống nhau của hai bài thơ, đặc biệt là khổ thơ cuối hoàn toàn trùng khít. Để tìm hiểu sự thật, tôi đã nhờ người cháu tìm hộ bản gốc bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, và đây là bài thơ được lấy từ địa chỉ http:/VOVNEW.VN

KHÚC HÁT THÁNG BA
Đào đã tàn từ lâu
Mà sen thì chưa tới
Ngoài khung cửa
Một khoảng trời chới với
Tháng ba
Bông lựu đơn nở vội trước hiên nhà
Một chấm đỏ như lời yêu vừa chín
Ai đan áo Nàng Bân
Cho mùa đông bịn rịn
Chỉ một chút thôi
Đủ để rét ngọt ngào
Mẹ ta ngồi vo gạo cầu ao
Tiếng vỗ rá nghe sao mà thân thuộc
Ta thương quá tháng ba ngày trước

Củ khoai gầy lát sắn mỏng thay cơm
Em ta giờ áo mặc đẹp hơn
Mắt lóng lánh nét cười rạng rỡ
Em không phải như ta xưa chăn trâu cắt cỏ
Chân lấm bùn đầu đội nắng trưa
Mẹ mừng thừa gạo trắng tháng ba
Lúa con gái đang thì thơm ngậy đất
Mẹ làm bánh trôi
Mẹ làm bánh khúc
Kính cẩn dâng trời đất tổ tiên
Những cũ càng không thể gọi tên
Đã nuôi lớn bao cánh buồm trai trẻ
Dù đi muôn phương
Ta vẫn muốn được như ngày thơ bé
Trở về nhà bên mẹ
Sà vào khói bếp tháng Ba.
22/3/2008
Và đây là bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của tôi được in trong tập thơ “Những khúc ca trên cỏ”- NXB Hội nhà văn ấn hành quý 4/2008 (lưu ý: ông Đặng Khánh Cường đã lấy bài thơ của tôi trên Tạp chí Thơ số 2 năm 2009 nhưng tôi chưa có tạp chí này để trích dẫn).

HOÀI KHÚC THÁNG BA
Đào lụi lâu rồi sen chưa tới
Một mình một ô cửa tháng ba
Thiết tha vừa chín hay nở vội
Lựu hoe mắt đỏ trước hiên nhà
Lỡ giấc mùa đan chưa kịp áo
Vào giêng hai nắng đã ấm rần
Có phải thương người cam phận đắng
Đất trời cho rét ngọt Nàng Bân
Giấu nỗi gì tháng ba văn vắt
Như thể ao chờ bóng mẹ ta
Mỗi lần vo gạo người soi mặt
Khoe với rong rêu chút ngọc ngà
Bìu ríu đi qua ngày giáp hạt
Tóp teo lát sắn mỏng khoai gầy
Thương quá những tháng ba ngày trước
Cơm thường cõng củ, cá-rô-cây!
May được tháng ba thừa gạo trắng
Dậy thì mơn mởn lúa đồng xanh
Bánh trôi bánh khúc dâng trời đất
Người kính tổ tiên đặng phước lành
Không còn phải chăn trâu cắt cỏ
Thì thụp lội bùn đội nắng trưa
Được phút thảnh thơi ngồi độc ẩm
Lại ngậm ngùi thương tháng ba xưa
Những muốn chạy ngay về với mẹ
Mẹ không còn nữa tháng ba ơi
Thanh minh lặng lẽ lên đồi vắng
Rưng rưng hương khói trắng mây trời.
22/3/2008
Qua đối chiếu hai bài thơ, tôi nhận thấy rằng khổ thơ cuối (in nghiêng đậm) trong bài thơ của tôi đã được ông Đặng Khánh Cường đưa vào bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh. Ngoài ra, bài viết đã không đầy đủ, cắt rời và nhiều sai sót đối với những hình ảnh trong bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của tôi nên có thể đã dẫn tới sự hiểu lầm không đáng có ở người đọc.
Dù sao tôi cũng đồng ý với ông Đặng Khánh Cường về sự giống nhau giữa hai bài thơ ở nhiều hình ảnh mà chính tôi cũng hết sức ngạc nhiên về sự giống nhau này. Tuy nhiên, những hình ảnh về tháng ba, về mẹ, về một thời gian khó… được sử dụng trong hai bài thơ đều có tính phổ biến và không một người đọc, không một nhà thơ nào không liên tưởng đến. Nếu bình tĩnh và công tâm mà nhìn nhận thì tâm thế, tình cảm và cái hướng đến của mỗi bài mỗi khác. Tôi không có ý định bào chữa cho mình vì dù sao tôi cũng là người có lỗi – lỗi của một người đã viết về cùng một đề tài nhưng đã không đọc được các tác phẩm trước đó của người khác để tránh sự trùng lặp, dẫn tới sự giống nhau (về vỏ ngoài của ngôn ngữ) đáng tiếc như trên.
Gửi đến Ban biên tập lá thư này là tôi mong muốn được nói lại cho rõ hơn và tha thiết mong tìm sự thấu hiểu, thông cảm từ Ban biên tập, nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và tất cả những người đọc thơ tôi. Có lẽ nào một người đã gần 30 năm cố “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán) như tôi lại đi “dịch thơ” người khác, gửi đăng ở Tạp chí Thơ, Báo Văn Nghệ, in thành tập gửi Hội đồng Thơ,… Làm thế có khác nào tự sát, trong khi thơ với tôi đã trở thành cây gậy chống, cây cầu nối với thế giới rộng lớn bên ngoài và thơ cũng chính là bản mệnh của tôi. Tôi không biết đến bao giờ mới hết bàng hoàng khi nghĩ đến cái án “dịch thơ” mà tôi đang phải gánh chịu.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban biên tập và tất cả bạn đọc đã lắng nghe!
Nguyễn Ngọc Hưng
ĐT: 055.3861.312  Đội 10, thị trấn Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.
Bài đã đăng trên Báo Văn Nghệ số 11 (ngày 14/3/2009)

_____________________________

MỘT LÁ THƯ NGỎ CẢM  ĐỘNG 

Nguyễn Trường Lưu

Tuần báo Văn Nghệ số 11 (ngày 14/02/2009) trang 22 đăng bài “Thư ngỏ gửi Ban biên tập Báo Văn Nghệ” tác giả Nguyễn Ngọc Hưng cũng là tác giả bài thơ “Hoài khúc tháng ba”. Bài thơ được tác giả Đặng Khánh Cường cho là “dịch thơ” ở Báo Văn Nghệ số 7 ra ngày 14/02/2009. Đọc thư ngỏ tóat lên một sự chân thành cảm động với hoàn cảnh sống của Nguyễn Ngọc Hưng (như một Đỗ Trọng Khơi thứ hai). Nguyễn Ngọc Hưng bị bại liệt sống quanh quẩn trong căn nhà nhỏ hẹp của mình (như nội dung thư ngỏ), yêu văn chương chắc chắn cuộc sống tinh thần của anh phải lấy trang văn câu thơ mà nương tựa. Cũng đúng như Nguyễn Ngọc Hưng tự bạch: “Có lẽ nào một người đã gần 30 năm cố “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán) lại đi dịch thơ của người khác”. “Hoài khúc tháng ba” được gửi đi và được sử dụng ở những trung tâm văn hóa của cả nước…
Là một người yêu thơ, tôi tin vào lý lẽ của Nguyễn Ngọc Hưng. Sau  khi cám ơn về sự phát hiện giống nhau giữa hai bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và “Hoài khúc tháng ba” của mình, Nguyễn ngọc hưng chỉ không đồng ý với việc tác giả Đặng Khánh Cường đem khổ thơ cuối của mình gắn vào làm khổ thơ cuối của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh. Sự khẳng định của Nguyễn Ngọc Hưng được minhh chứng trên trang báo Văn Nghệ số 7 (ngày 14/02/2009).
Đạo văn, đạo thơ là một việc làm xấu. Vi phạm pháp luật. Những người yêu văn chương đích thực không ai làm như vậy. Và tất nhiên mọi phát hiện đều rất cần thiết, đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, trong bài viết của tác giả Đặng Khánh Cường chúng tôi thấy chưa được thỏa đáng. Giá như Đặng Khánh Cường đăng tải nguyên tác cả hai bài thơ, sau đó phân tích để chỉ ra… để người đọc chúng tôi, qua sự cảm nhận và qua thẩm định riêng của mình sẽ nhìn ra, minh bạch hơn. Phê bình quyết liệt một hiện tượng đạo thơ mà lại đi mang khổ thơ của người này gắn vào khổ thơ của người kia quả là… Chắc Đặng Khánh Cường phải là họa sĩ… đa tài!
Sau bài viết của tác giả Đặng Khánh Cường và thư ngỏ của Nguyễn ngọc Hưng, độc giả của Hà Nội xôn xao bàn luận. Người cho thế này, người cho không phải thế!
Và thật may chúng tôi đã tìm được tập thơ “Những khúc ca trên cỏ” của Nguyễn Ngọc Hưng do Hội Văn Nghệ Quảng Ngãi và Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm 2008. Trong tập thơ này có bài thơ “Hoài khúc tháng ba”, viết theo thể thơ 7 chữ chia thành 7 khổ thơ, được viết ngày 22/03/2008. Phải thừa nhận “Hoài khúc tháng ba” là bài thơ dồi dào cảm xúc. Thơ xoắn, chụm từ đầu cho đến cuối- thơ dài mà đọc không thấy mệt. Đọc “Hoài khúc tháng ba” của Nguyễn Ngọc Hưng mà như thấy có cả tháng ba của chính mình.
Chúng tôi đem so sánh và thẩm định theo tạng riêng của mình thì thấy một số điểm như sau: Bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh có 4 khổ thơ (theo bài viết của Đặng Khánh Cường). Riêng khổ thơ kết nếu bỏ 4 câu mà tác giả Đặng Khánh Cường lấy của Nguyễn Ngọc Hưng ghép vào thì khổ cuối cũng chỉ có 4 câu: “Em ta giờ áo mặc đẹp hơ/ mắt lóng lánh nét cười rạng rỡ/ em không phải như ta xưa chăn trâu cắt cỏ/ chân lấm bùn đầu đội nắng trưa”(?). So giữa hai bài thơ có khổ thơ 1 gần giống nhau nhưng tứ của khổ thơ này hoàn toàn khác. Thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh: “Đào đã tàn từ lâu/ mà sen chưa tới/ ngoài khung cửa/ một khoảng trời chới với/ tháng ba” – thơ của Nguyễn Ngọc Hưng: “Đào lụi lâu rồi sen chưa tới/ Một mình một ô cửa tháng ba/ Thiết tha vừa chín hay nở vội/ Lựu hoe mắt đỏ trước hiên nhà”. Thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh dùng hình tượng để cho ta một tháng ba. Còn Nguyễn Ngọc Hưng ngoài những hình tượng về tháng ba còn có một tầng ngữ nghĩa sâu xa về sự cô đơn, về thân phận, về sự nuối tiếc… Khổ thơ này nếu ai biết hoàn cảnh riêng của Nguyễn Ngọc Hưng hẳn sẽ không nghi ngờ, đúng là thơ viết tự trái tim. Xưa nay người làm thơ phải lấy cảm xúc từ chính thân phận mình, rồi hư cấu, làm cho ảo đi để thành thơ.
Từ khổ thơ mở của hai bài thơ ta đi hết toàn bài và nhất là khi đọc hai bài theo thứ tự, chắc ai cũng nhận ra “Khúc hát tháng ba” cô đọng, gợi lên những nét chấm phá dành cho người đọc nhiều liên tưởng, nhịp thơ gập ghềnh nên nhạc điệu thăng giáng bất chợt.
Với “Hoài khúc tháng ba” những câu thơ mang hình tượng thấm sâu vào ngõ ngách tâm hồn. Thơ không bắt người đọc phải suy ngẫm nhiều, nó đi thẳng đến trái tim gây nên những rưng rưng khó dứt. Nền thơ 7 chữ êm, sang trọng đầy hoài niệm, thơ bắt vần theo luật.
Thơ về tháng ba – tháng ba hoa gạo, rơm gầy… mùa sấm đói no, cùng chiếc cầu ao mẹ ta vo gạo, hoa lựu đỏ lập lòe…, tháng ba với những hình tượng quen thuộc ngàn xưa. Người làm thơ rất dễ bước gần nhau! Theo chúng tôi, những bài thơ có thể có những từ ngữ, hình ảnh nào đó giống nhau, như sự khác nhau là ở tứ thơ. “Hoài khúc tháng ba”“Khúc hát tháng ba” hoàn toàn khác nhau về tứ. Tác giả Đặng Khánh Cường cắt xén, lắp ghép ngôn từ giữa hai bài thơ rồi dùng nhưng giọng văn hài hước… như mỉa mai là một việc làm không thiện và rất vội vàng. Đó là chưa muốn nói anh hiểu về thơ chưa mấy!
Là người yêu thơ tôn thờ “Chân Thiện Mỹ” chúng tôi thấy cần có những ý kiến để mong rằng vườn văn học mãi sạch sẽ thơm tho. Từ Hà Nội xin cảm thông cùng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, anh đã đứng dậy với số phận nghiệt ngã… tin rằng làn gió không thiện sẽ chỉ như những thử thách để anh vững vàng hơn trên con đường làm thi sĩ.
Hà Nội, ngày 14/04/2009
Nguyễn Trường Lưu
(An Đào, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. ĐT: 04. 3876.8408)
Bị chú:
Bài đã đăng trên Báo Văn Nghệ sau số đăng bài “Thư ngõ gửi Ban biên tập Báo Văn Nghệ” của Nguyễn Ngọc Hưng. Vì không có số báo ấy trong tay nên ai muốn biết chính xác thì liên lạc với tác giả Nguyễn Trường Lưu theo số ĐT trên.
______________________________

VỀ SỰ THẬN TRỌNG KHI TRÍCH DẪN CỦA NGƯỜI PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Nguyễn Huy Thông   

Tôi nghĩ rằng điều này là vô cùng cần thiết đối với những người làm công tác lý luận, phê bình văn học cũng như những người nghiên cứu khoa học xã hội nói chung. Bởi vì việc dẫn chứng, trích dẫn chính xác, trung thực, khách quan sẽ góp phần làm cho người viết có lập luận, phân tích, nhận định, kết luận vấn đề một cách công tâm, đúng đắn, tránh thiên lệch, quy chụp vội vàng và ngược lại. Chính vì vậy, tôi muốn góp vài ý kiến nhỏ về bài viết của tác giả Đặng Khánh Cường (ĐKC) đăng trên Báo Văn Nghệ số 7, ngày 14.02.2009 cho rằng bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của Nguyễn Ngọc Hưng (NNH) “đạo” bài thơ “Khúc hát tháng ba” của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh (NTĐT).

A)    Về nguyên văn 2 bài thơ

Tác giả ĐKC viết: “Tôi xin được chép nguyên văn hai bài thơ để bạn
đọc cùng xem xét.
Bài “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh viết tháng 3-2003, in trong tập thơ “Miền hoa dại”, Nhà xuất bản Hội nhà văn- 2006”.
Nói như vậy nhưng không hiểu sao ĐKC chỉ giới thiệu bài thơ của NTĐT mà không giới thiệu bài thơ của NNH đã in trong Tạp chí Thơ số 2- 2009. Và ngay cả bài thơ của NTĐT được giới thiệu có 23 câu, đối chiếu với bài thơ của chị in trong tập “Miền hoa dại”, chúng tôi thấy chỉ có 19 câu đúng nguyên văn, còn 4 câu kết, kèm theo dòng chữ số “22-3-2008” không phải của NTĐT mà chính là đoạn kết trong bài “Hoài khúc tháng ba” của NNH. Ấy thế mà ở câu văn mà chúng tôi vừa dẫn, ĐKC cho biết bài thơ của NTĐT viết tháng 3-2003. Rõ ràng là ông tự mâu thuẫn với chính mình. Xin nói thêm là nếu ai đó chỉ xem bài thơ của NNH và bài thơ của NTĐT do ĐKC giới thiệu mà không xem nguyên văn chính xác bài thơ của chị thì dễ cho là NNH đã “đạo” 4 câu thơ cuối của NTĐT làm thơ của mình.
Ở đoạn sau của bài viết, ĐKC có dẫn thêm 4 câu thơ nữa của NTĐT (thực ra là 5 câu thơ, vì có một dòng gồm câu thơ khác nhau, đáng lẽ phải xuống dòng, nhưng ĐKC đã viết liền). Như vậy là nguyên văn bài thơ của NTĐT có 31 câu, nhưng mới được giới thiệu có 24 câu, còn thiếu 7 câu thơ, bao gồm một câu nằm giữa 5 câu thơ nói trên đã bị sót là “Mẹ làm bánh chay” và 6 câu thơ ở đoạn kết là:
            Những cũ càngkhông thể gọi tên
            Đã nuôi lớn những cánh buồm trai trẻ
            Dù đi muôn phương
            Ta vẫn muốn được như ngày thơ bé
Trở về nhà bên mẹ
Sà vào khói bếp tháng ba

                                                Mỹ Lộc, 3-2003

b) Về những câu thơ trong 2 bài thơ được trích dẫn
Chúng tôi không có ý bao che cho NNH, vì dù sao như anh đã tự nhận mình “là người có lỗi- lỗi của một người đã viết về cùng một đề tai nhưng đã không đọc được những tác phẩm trước đó của người khác để tánh sự trùng lặp, dẫn tới sự giống nhau (về vẻ bề ngoài của ngôn ngữ) đáng tiếc…” (“Thư ngỏ gửi Ban biên tập Báo Văn Nghệ” của NNH đăng trên Báo Văn nghệ sô 11, ngày 14-03-2009).
Song, chúng tôi nghĩ rằng hoàn cảnh và nghị lực của NNH để sống và sáng tác rất đáng cho chúng ta cảm thông, thể tất và động viên anh. Mặc dù bị tật nguyền, thiệt thòi trăm bề, nhưng anh vẫn quyết tâm vươn lên “vịn câu thơ mà đứng dậy”, coi thơ “chính là bản mệnh” của mình. Nếu chú ý thì chúng ta sẽ thấy mặc dù có một số điểm ngẫu nhiên trùng lặp giống nhau ở hai bài thơ, viết cùng về một đề tài, nhưng chủ định, hướng đến và cách thể hiện của mỗi tác giả ở mỗi bài vẫn có nét khác nhau.
Tác giả NKC đã phát hiện được một số câu thơ giống nhau về ý, tứ, hình ảnh của sự vật, hiện tượng và từ ngữ trong 2 bài thơ của NNH và NTĐT. Phần đầu bài viết, ĐKC đã giới thiệu 19 câu thơ đúng nguyên văn của nhà thơ NTĐT. Vậy mà ở phần sau của bài viết, khi trích dẫn một số câu thơ sau đây, nằm trong 19 câu  thơ ấy để chứng minh cho sự giống nhau đó thì ĐKC vẫn chưa bảo đảm được sự chính xác:
- Đào đã tàn từ lâu Mà sen thì chưa tới
(Nguyên văn là 2 câu thơ riêng biệt phải xuống dòng, chứ không thể viết liền)
- Khung cửa… Tháng ba
(Nguyên văn gồm 3 câu thơ. Câu thứ nhất là “Ngoài khung cửa”, câu thứ 3 là “Tháng ba”.

- Bóng lựu… Một chấm đỏ
(Nguyên văn là 2 câu thơ: “Bóng lựu đơn nở vội trước hiên nhà/ Một chấm đỏ như lời yêu vừa chín”)

- Nàng  Bân… đủ để rét ngọt ngào
(Nguyên văn gồm 4 câu thơ. Câu thứ nhất là “Ai đan áo Nàng Bân”, câu thứ tư là “Đủ để rét ngọt ngào”)
- Mẹ vo gạo cầu ao
(Nguyên văn là “Mẹ ta ngồi vo gạo cầu ao”)
- Em không phải như ta xưa
chăn trâu cắt cỏ
(Đây là một câu thơ, nguyên văn là “Em không phải như ta xưa chăn trâu cắt cỏ”)
ĐKC cũng trích dẫn một số câu chưa đúng với nguyên văn trong bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của NNH, cụ thể là:
- Ô cửa tháng ba
            (Nguyên văn là “Một mình một ô cửa tháng ba”)
            - Lựu loe lửa đỏ
            (Nguyên văn là “Lựu loe lửa đỏ trước hiên nhà”)
            - Tháng ba về rét ngọt Nàng Bân
            (Nguyên văn là “Tháng ba về ngọt rét Nàng Bân”)
- Ao chờ bóng mẹ ta mỗi lần vo gạo
(Nguyên văn là 2 câu thơ “Như thể ao chờ bóng mẹ ta/ Mỗi lần vo gạo người so mặt”)
- Tóp tép lát sắn mỏng khoai gầy
            (Nguyên văn là “Tóp teo lát sắn mỏng khoai gầy”)
Qua những dẫn chứng trên, ta có thể thấy rằng ông ĐKC khi giới thiệu toàn văn bài thơ của NTĐT cũng như khi trích dẫn các câu thơ đã không theo đúng nguyên văn bài thơ của cả hai tác giả: Cắt bớt một số từ ngữ, đảo lộn trật tự từ ngữ và thứ tự của các câu thơ hoặc ỏ hẳn cả một đoạn thơ rồi đưa thơ của NNH vào cuối bài thơ của NTĐT. Cách trích dẫn đó chứng tỏ người viết thiếu sự tôn trọng các tác giả, rất cần được rút kinh nghiệm.
Suy cho cùng thì phương pháp làm việc thận trọng, chính xác, khoa học, trung thực với chính bản thân và với người khác vẫn là yêu cầu cần thiết, không thể thiếu đối với nhiều người, nhất là các cán bộ nghiên cứu, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật.
                                                                        TP. Phủ Lý, ngày 15-5-2009
                                                                       
NGUYỄN HUY THÔNG
(Nhà văn, nhà phê bình văn học. Hội viên Hội Nhà văn ViệtNam. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam)
(Bài đăng trên Tạp chí Cẩm Thành số 59 – tháng 6/2009)
____________________________

No comments:

Post a Comment