Đảng Dân chủ Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đảng Dân chủ Việt Nam
Việt Nam Dân chủ Đảng
Chủ tịch Dương Đức Hiền
Tổng bí thư Nghiêm Xuân Yêm
Thành lập 30 tháng 6, 1944
Giải tán 20 tháng 10, 1988
Trụ sở Hà Nội
Hệ tư tưởng/
vị thế chính trị
Chủ nghĩa xã hội dân chủ
Khẩu hiệu Dân chủ - Đoàn kết - Phát triển
Thuộc quốc gia  Việt Nam
Bài này nói về một Đảng Dân chủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ 1944-1988. Về các Đảng Dân chủ khác trong lịch sử Việt Nam, xem bài Đảng Dân chủ Việt Nam (định hướng).

Đảng Dân chủ Việt Nam là "chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam", hoạt động từ năm 1944, tên ban đầu là Việt Nam Dân chủ Đảng. Tiền thân của nó là Tổng hội sinh viên Đại học Tổng hợp Hà nội năm 1940, sau các nhóm sinh viên yêu nước hợp nhất thành lập đảng. Đảng tham gia Việt Minh, Dương Đức Hiền tham gia Tổng bộ Việt Minh, sau đó lại tách ra[1],..., và tham gia Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Trong Quốc hội khóa I năm 1946 đảng giành 46 ghế, do Đỗ Đức DụcTôn Quang Phiệt lãnh đạo. Đảng có 2 ghế trong Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận) và 4 ghế trong chính phủ lâm thời, đến tháng Ba năm 1946 (Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận, Vũ Trọng Khánh, Vũ Đình Hòe). Ở Nam bộ ban đầu các đảng viên hoạt động như là nhóm Tân Dân chủ (Huỳnh Văn Tiểng lãnh đạo, năm 1945). Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12 năm 1946, đảng lại gia nhập Việt Minh.

Mục lục

Từ năm 1954 đến 1975 đảng hoạt động tại miền Bắc Việt Nam (Đảng bộ tại miền Nam về hình thức tách ra năm 1961 vẫn lấy ngày thành lập năm 1944, thành lập Đảng Dân chủ tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tới 1975), và từ 1975 đến 1988 trên toàn Việt Nam.

Kể từ Quốc hội khóa II, ứng cử viên tranh cử trong khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đảng Dân chủ hiện nay được xem là một đảng mới thành lập chứ không phải sự hoạt động trở lại của Đảng Dân chủ đã giải thể từ năm 1988[2][3]

Các nhà lãnh đạo chủ chốt [sửa]

Các nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng Dân chủ:

Tuyên bố khôi phục Đảng Dân chủ của Hoàng Minh Chính [sửa]

Ngày 1 tháng 6 năm 2006, ông Hoàng Minh Chính nguyên là Tổng Thư Ký Đảng Dân chủ dưới thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra tuyên bố phục hồi hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam.[4] Đảng này lấy lại tên cũ là Đảng Dân chủ Việt Nam, để nhấn mạnh đảng được phục hoạt và phát triển ở thế kỷ 21, các nhà lãnh đạo đảng thường sử dụng tên gọi tắt khác là Đảng Dân chủ thế kỷ 21, tên này được sử dụng rộng rãi thay vì dùng tên chính thức.[5]

Xem thêm [sửa]

Tham khảo [sửa]

  1. ^ Theo cuốn Vietnam 1945 của David G. Marr thì thời gian sau cách mạng Tháng Tám có mâu thuẫn, tranh chấp ở Hải Dương và miền Nam giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng sản
  2. ^ Trong bài phỏng vấn Phó Tổng thư ký Trần Khuê, khi viết và hỏi ông Trần Khuê, thay cho cụm từ "phục hồi" hay "phục hoạt", BBC đã chỉ dùng cụm từ "thành lập từ 1/6/2006", ông Khuê đã không lần nào phản đối hay cải chính.
  3. ^ SBTN, Đảng Dân Chủ 21 Công Bố Cương Lĩnh Hành Động 10/19/2006, bài này cũng nói về "sự thành lập vào ngày 1-6-2000"
  4. ^ BBC, Khôi phục hoạt động đảng Dân Chủ?, 6-6-2006
  5. ^ Phó tổng thư ký Trần Khuê dùng tên gọi Đảng Dân chủ thế kỷ 21 khi trả lời phỏng vấn BBC.Đảng Dân chủ ra cương lĩnh hành động