[Ga: een map omhoog, voorpagina, ]

Bericht e-mailen naar een vriend: Hoàng Hải Vân

De informatie die u hier opgeeft wordt alleen gebruikt voor het versturen van de e-mail naar uw vriend. Deze functie mag niet worden gebruikt voor advertenties of buitensporige zelfpromotie.

Vereist

Geef een lijst op van maximaal 10 e-mailadressen (gescheiden door komma's).

Vereist
Maximaal 300 tekens
Geef de tekens op die in de afbeelding worden weergegeven.

Đọc Bùi Giáng (III)


Hồi nhỏ đọc “Ngày tháng ngao du” của Bùi Giáng tôi không hiểu, nhưng nhiều chỗ ông nói bá xàm như con nít nghe rất vui nhộn. Lớn lên đọc cũng không hiểu, càng cố hiểu càng không hiểu. Bây giờ đọc lại không thể nói là hiểu hay không hiểu, nói không hiểu thì không đúng, còn nói hiểu là nói bừa.

Đọc cuốn sách này (cũng như những cuốn sách khác của Bùi Giáng) nếu như không cố hiểu, bạn sẽ thấy thú vị như nhìn trẻ con nô đùa, như nhìn phố xá nhộn nhịp, như nghe cây lá chim chóc véo von như thấy chuồn chuồn bay phấp phới.

Trong “Tái bút” của cuốn sách, Bùi Giáng rất ý tứ : “Ngày Tháng Ngao Du đi bước ngu dao nghiêm mật phiêu bồng trong toàn thể phiêu bồng của nó. Không thể tách rời một bài nào ra, để công kích hay tán dương theo lối hồ đồ bác học”. Ông còn bảo “đành rằng ngao du là ngao du với bước đi của ngôn ngữ thượng thừa, nhưng thỉnh thoảng cũng phải chịu chơi giấn thân vào cuộc với ngôn ngữ hạ thừa”.

Thế nào là thượng thừa ? Và thế nào là hạ thừa ?

Khoan nói đến những ngôn ngữ kỳ lạ kiểu như “cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ” đầy dẫy trong cuốn sách. Hãy nghe Bùi Giáng nói về kinh Phật trong một bài viết về cuốn sách của Kimura Taiken trước đã. Kimuara Taiken là một học giả uyên bác người Nhật, tác giả cuốn “Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận”, thượng tọa Thích Quảng Độ dịch ra tiếng Việt từ một bản dịch chữ Hán, xuất bản trước năm 1975. Bùi Giáng ngao du vào cuốn sách đó và nhìn ông Taiken không phải bằng nửa con mắt mà bằng 1/10 con mắt. Bùi Giáng cho rằng :

“Ông (Taiken) viết sách thông thái tót vời, nhưng ông vẫn chưa biết cách tư tưởng. Ông bỏ lạc mất cái mạch ngầm ẩn mật trong những bộ kinh. Lời tại đây mà ý tại kia… Ngón tay Phật đưa lên từ chỗ nọ, mà cõi bờ bát ngát được chỉ dẫn ở tại đâu ?”.

Chỉ cho người đọc những “lệch lạc, thiếu căn bản tinh mật” trong lập luận cũng như những lời “mang tính chất giáo sư phê bình bài vở nhà trường”, trong đó ông Taiken nhận xét rằng các bộ kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma “gạt bỏ Thanh Văn, bài xích Nhị Thừa” (tôi đã đọc cuốn sách của Taiken theo chỉ dẫn của Bùi Giáng và thấy Taiken nói rằng những tư tưởng của các bộ Kinh này tuy phát huy chân ý của Đức Phật nhưng chỉ giới hạn vào một “giai cấp đặc quyền nào đó thôi” và nếu xét theo tinh thần Bồ Tát cứu độ tất cả chúng sinh thì các kinh đó “vẫn còn có điểm khiếm khuyết, thiếu sót đáng tiếc”), Bùi Giáng viết tiếp :

“Lời nói đó (của Taiken), dù được hạn chế thế nào, vẫn không phải là lời của con người biết tự trọng. Vì sao ? Vì con người biết tự trọng là kẻ biết lặng thinh lúc đứng trước trùng khơi trí hải, lúc đối diện với giáp trĩ sơn lâm.

Nếu có gì khiếm khuyết, thiếu sót đáng tiếc, thì ấy là ở tại nơi ta, chớ không ở tại nơi rừng biển. Lòng ta không đủ rộng để đón nhận núi rừng. Những âm thanh phát ra là những diệu ngôn, những xảo-mật-ngữ trong phương-tiện-lực của biện tài thần thông tam muội. Một chút vi vu thoang thoảng đối với kẻ biết nghe, rất có thể mang đầy những vô lượng thế giới xa vắng về gạ gẫm bên làn da hiu hắt, nơi một lỗ chân long. Thì đáng tiếc thiếu sót cái gì ?”.

Theo Bùi Giáng thì lời lời trong các bộ kinh đó “tưởng như “gạt bỏ” mà thật ra là “dìu về”, bài xích mà chở che – chẳng riêng gì với Nhị Thừa với Thanh Văn, mà rộng ra khắp chúng sinh lạc loài suốt những a tăng kỳ kiếp”.

“Đừng nệ ở miền mà quên mất cõi. Đừng chấp ở cõi mà lạc mất mép rìa. Đừng nắm cái lời mà lệch cái điệu. Đừng nắm cái điệu mà bỏ mất cái heo hút hòa âm.

Người ta cứ tưởng Kinh Duy Ma đã đem những Xá Lợi Phất, Ma Ha Ca Chiên Diên ra mà chế giễu. Đâu có gì như thế. Bồ Tát vốn lắm phen thị hiện theo lối nghịch hành. Vì chúng sinh, họ có thể mở trận đùa rỡn từng cơn cơn cuộc cuộc. Và thảy thảy cùng man mác nằm ở giữa lòng mênh mông hiu hắt Như Lai”.

Một thiền sư thuyết pháp về kinh Phật, lời dù thâm sâu cũng đến thế là cùng.

Nhưng ngôn ngữ mà Bùi Giáng dùng để nói với ông Taiken là ngôn ngữ thựợng thừa chăng ? Không. Đó là ngôn ngữ hạ thừa, dù điều này chắc là trái với thước ngọc khuôn vàng của đa số các văn nhân học giả.

Giờ hãy đọc bài “Ở giữa rừng Thệ Đa” để thấy ông nhảy vọt một bước từ hạ thừa lên thượng thừa trong trận ngao du ngôn ngữ. Rừng Thệ Đa là “đất Phật”, là nơi Đức Phật ở sau khi đắc đạo, là nơi Đức Phật hội tụ với 500 đại Bồ Tát. Bùi Giáng lai rai :

“Mặc dù ở trong rừng Thệ Đa, mà vẫn …

“Tuy tại Thệ Đa trung, bất kiến Như Lai tự tại thần lực…”.

Tình trạng đó, đâu phải chỉ riêng của hàng Thanh Văn.

Mà rừng Thệ Đa, đâu chỉ duy là rừng Thệ Đa.

Mà thần lực tự tại của Như Lai, đâu phải chỉ duy bo bo là Như Lai thần lực.

Ấy có nghĩa thế nào ?

Ấy có nghĩa rằng :

Mỗi mỗi người đều có một rừng Thệ Đa ở trong mình rất mực thần thông trí hải. Và cứ hằng hằng đánh mất mỗi mỗi ngày ngày cho tới suốt bình sinh tam sinh thập tử.

Vì thế nên phải gọi mãi mãi cánh chuồn chuồn mỗi mỗi bay về, bay đi, bay ở, bay vô phương vô hướng, bay tự tại thần thông, gà đồng mèo mả, mộng mỵ chiêm bao.
(…)
Tưởng chừng như mỗi mỗi người người không hằng hằng mỗi mỗi sát na gặp gỡ bà Tây Vương Mẫu ở tại rừng Thệ Đa vén xiêm ngồi xuống chan rưới mưa móc xum xuê !

Ô, cô Kim Cương ạ ! Tại hạ tuyệt vọng vô cùng, bởi vì cô không hứa chắc rằng mai sau sẽ đi tiểu …”

Phân tích tán dương ngôn ngữ hạ thừa của Bùi Giáng thì dễ. Nhưng đối với ngôn ngữ thượng thừa thì “xin các hạ hãy vô ngôn”.

(Chỉ xin mở một cái ngoặc : Kinh Phật bao la bát thiên tứ hải có chứa đủ tất cả những gì thuộc về cuộc sống của con người, bao gồm cả những chuyện ăn chuyện ngủ chuyện vân vân…, nhưng kinh Phật khi dịch ra chữ Hán, các đại sư Trung Hoa va phải bức tường hình nhi hạ Khổng Tử, nên những chỗ vân vân đó đều được phiên âm chứ không dám dịch nghĩa. Phật không câu nệ tù túng như Khổng. Bởi vậy mà ngày xưa Tôn Ngộ Không dù đã đái một bãi trên bàn tay Như Lai mà sau này vẫn cứ thành Phật như thường, Như Lai đâu có để ý đến cái lý lịch vô phép đó của Ngộ Không).

Trên đây là hai nếp gấp hạ - thượng thừa của “Ngày tháng ngao du”.

Và xin đưa mắt ngao du cùng Bùi Giáng thêm mấy bài nữa trên những rìa mép thượng thừa :

PHẬT CHẤT VẤN

- Bùi Bồ Đề ! Ý ông thế nào ? Cõi lòng Mẫu Thân Phùng Khánh có từ bi bằng cõi lòng của ta chăng ?
- Chẳng bằng.
- Bùi Bồ Đề ? Ý ông thế nào ? Cõi lòng của ta có từ bi bằng cõi lòng Mẫu Thân Phùng Khánh ?
- Chẳng bằng.
- Bùi Bồ Đề ! Ý ông thế nào ? Hai lần đáp chẳng bằng có phải là rất mực bằng chăng ?
- Rất mực.

PHẬT VÀ TIÊN

Phật ngồi dưới gốc bồ đề
Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai
Thưa rằng Phật thật là tài
Thấy mà như chẳng tự ngoài vào trong.

THẬT LÀ NHƯ THẾ

- Brigitte Bardot đẻ ra mày lúc nào ?
- Lúc tao mở mắt chào đời.
- Lúc đó mày cảm thấy thế nào ?
- Tao cảm thấy đau đớn.
- Tại sao đau đớn ?
- Bởi vì trước lúc đó, cô Kim Cương cũng có ý định đẻ ra tao. Nhưng lúc thấy Brigitte đẻ ra rồi, thì cô thôi không đẻ ra tạo nữa.

MỖI MỖI NGÀY (trích)

Mỗi mỗi ngày tôi càng mỗi trẻ dại thêm ra.
Tôi chiêm bao ngàn ngàn mộng mỵ.
(…)
Brigitte Bardot bảo tôi rằng :
-Thơ chàng tặng em đọc nghe hay ho hơn thơ chàng tặng chị Monroe. Vì sao như thế ?
-Thế ư ? Thế ư ? Tôi đâu có thể biết vì sao như thế.
-Ắt có thể rằng là…
-Rằng là làm sao ?
-Rằng là ấy bởi chàng yêu Monroe nhiều hơn yêu em.
-Tại sao như thế ?
-Phàm hễ yêu nhiều, thì ấp úng không nên câu. Thơ làm tặng người yêu bao giờ cũng dở là bởi lẽ đó.
-Té ra là như thế.

Khổng Tử bảo tôi rằng :
-Thơ của ngài làm ra đích thị là thơ thần. Lời của lão hủ nói ra là lời thánh. Thánh chịu thua thần vậy.
-Thật thế ư ?
-Nhiên.

Phật bảo tôi rằng :
-Ngài làm thơ hay như thế, ta không bằng lòng.
-Tại sao ?
-Hàng ngàn Phật tử từ nay đọc thơ của ngài, ắt sẽ xao nhãng việc kinh kệ.
(….)

NIETZCHE

“Ta là ánh sáng. Ôi, phải chi ta là bóng đêm”…

Nietzche thường có giọng nói lố bịch như thế. Lố bịch một cách khệ nệ khệnh khạng như Lão Tử. Hoặc như những ông thiền sư lố bịch “trường khiếu nhứt thanh hàn thái hư”.

Thơ văn tôi làm cũng có lố bịch, nhưng lố bịch một cách thơ dại, khiến người đọc vui vẻ trường thọ.

Khoảng mười một năm nữa, sẽ chẳng còn ai đọc văn Nietzche. Trái lại, thơ văn của tôi, người ta sẽ thiết tha đọc ríu rít “ràng rịt mãi cho tới ngày tận thế” (!!!).

Giọt mờ bến cát chia xa
Hiên thềm đau cỏ gú ra đau hồng
Tường vi hai độ ra bông
Ra hoàng hậu đợi ra đồng chiều nay
Nghiêng mình mục tử cầm tay
Ra hoàng hậu đợi chiều nay ra đồng

Lố bịch như thế khiến cõi đời thơ mộng ra. Chúng ta không còn ngạc nhiên gì nữa, nếu thấy bao nhiêu hoàng hậu trong sử xanh đều yêu mến Bùi Giáng, và xa lánh Nietzche, xa lánh Lão Tử, xa lánh những ông thiền sư.

ĐỒNG THANH ĐIÊN

Mỗi năm nghe nguyệt mỗi sầu
Từ trong hang cọp thò đầu gọi beo
Hằng năm xuống phố gọi mèo
Gấu nghiêm trang bốn chân trèo leo qua
Thênh thang trâu ngựa trao quà
Trăng châu thổ động vịt gà gọi nhau
Chùa chiền mở cổng trước sau
Trên đầu qũy đạo ngọn cau kết chùm

(Bùi Giáng – Ngày tháng ngao du)

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài liên quan :
Đọc Bùi Giáng (II)
Đọc Bùi Giáng (I)