[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Những ngày cuối cùng của Sài Gòn (phần 2)

Tường thuật chiến tranh đã trở nên đơn điệu trong những ngày cuối cùng. Các trận đánh duy nhất diễn ra quanh Quốc lộ 1, dẫn về phía đông tới Xuân Lộc. Đi 60 ki-lô-mét với chiếc ô tô thuê ngang qua căn cứ Mỹ Long Bình bị bỏ lại và lãng quên và qua căn cứ không quân Biên Hòa là người ta đã ở gần mặt trận. Sau Hiệp định Ngừng bắn Genève năm 1954, tròn 300.000 người tỵ nạn Công giáo từ miền Bắc đã định cư tại vùng quanh Biên Hòa, và nhờ siêng năng mà đã tạo được một sự thịnh vượng khiêm tốn dưới bóng của những ngôi nhà thờ bê tông trơ trọi, cột Đức Mẹ và hang đá. Bây giờ thì những người này, mười lăm năm dài đã là cột sống của cuộc chiến đấu tự vệ chống cộng sản, lại trên đường chạy trốn trước các sư đoàn đang tiến đến của Hà Nội. Cũng như trong năm 1954, các cha và xơ cũng đảm nhận việc dẫn đầu đoàn người tỵ nạn, nhưng lần này thì không còn nơi trú ẩn an toàn trong miền Nam nữa, mà chỉ là chuyến bộ hành trong ngày về cho tới những thị trấn ngoại ô đầy người của một thành phố lớn đã mang dấu hiệu của sự chìm đắm.

Người dân thường chạy tỵ nạn ở nam Xuân Lộc,  1975

Người dân thường chạy tỵ nạn ở nam Xuân Lộc, 1975

Đọc tiếp

Những ngày cuối cùng của Sài Gòn (phần 1)

Sài Gòn, tháng Tư 1975

Đối với tôi, Sài Gòn chưa bao giờ mang nhiều nét Á hơn là trong những những ngày trước khi sụp đổ. Ngay sau khi ra khỏi con đường Tự Do và cái chợ hoa, người ta sẽ nhanh chóng đi trong một đám đông chật ních người da vàng như là người da trắng duy nhất. Trước người nước ngoài, người Việt đeo lên gương mặt họ một cái mặt nạ của sự dửng dưng. Chỉ khi họ có cảm giác không bị quan sát thì ánh mắt của họ mới lộ ra nỗi lo lắng và sự chờ đợi cái thảm họa đang tiến đến gần. Tài xế Canh của tôi, người mà tôi đã quen biết từ nhiều năm nay, chưa từng bao giờ lái xe một cách sơ ý và lơ đễnh qua sự hỗn loạn của giao thông nội thành như vậy. Bị tôi khiển trách, nỗi lo sợ bộc phát từ trong anh ấy ra ngoài: “Ông cũng biết mà, Monsieur: năm 1954 tôi đã chạy trốn người cộng sản từ Hà Nội vào miền Nam, rồi bây giờ thì họ lại bắt kịp tôi.” Bà đứng đầu sở điện tín, một người miền Trung trầm tư với búi tóc nghiêm khắc, kéo tôi sang một bên: “Có đúng không, Monsieur, người Bắc Việt sẽ giết chết hết tất cả các nhân viên của chính phủ Sài Gòn?” Trong Đà Nẵng bị chiếm đóng, người cộng sản đã bắt bừa hàng trăm người trong mỗi một khu phố và đã bắn chết công khai để đe dọa. Người ta đã thuật lại cho bà như vậy. Thỉnh thoảng cứ trông giống như là sự hỗn loạn được cố tình được kích động qua tin đồn.

Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.

Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.

Đọc tiếp

Chúc Mừng Năm Mới

Blog Phan Ba xin kính chúc tất cả quý bạn gần xa một năm mới an khang hạnh phúc, vạn sự như ý!

 

Tù nhân của Việt Cộng (hết)

Jean-Louis Arnaud mời tới dự một buổi tiệc cocktail để mừng lần chúng tôi cùng nhau trở về Sài Gòn. Căn hộ thuê của anh trên đường Tự Do nằm đúng trên căn hộ mà năm 1951 tôi đã gặp lại “Pascha” Ponchardier ở trong đó. Jean-Louis được hai chị em người Việt đã già chăm sóc, hai người phụ nữ bình thường từ tầng lớp bình dân, những người có thể nấu ăn rất ngon và có phong cách đối xử rất thanh lịch. Lần nào tôi đến thăm người đồng nghiệp Pháp và anh ấy từ văn phòng vẫn còn chưa về, thì một trong hai chị em ngồi xuống với tôi và tiếp chuyện. Mãi sau khi Sài Gòn bị chiếm đóng bởi người Bắc Việt, Jean-Louis mới biết rằng chồng của một người phục vụ cho ông sống ở Hà Nội từ 1954 và thậm chí còn có một chức vụ quan trọng trong hệ thống của Đảng nữa.

Quán rượu trên đường Tự Do, 1969

Quán rượu trên đường Tự Do, 1969

Đọc tiếp

Tù nhân của Việt Cộng (phần 4)

Vào buổi sáng ngày hôm sau, ông giới thiệu với chúng tôi hai người tháp tùng mới. Người già hơn là thiếu tá Tac, một người Bắc Việt trông hiền hậu như một người cha và là sĩ quan mặt trận, người được các cơ quan cách mạng ở Lộc Ninh cử đến với chúng tôi. Ít có thiện cảm hơn là trung úy Trung, người có lẽ thuộc mật vụ Bắc Việt, được gửi đến Cuba thông qua Liên bang Xô viết và hẳn là đã được đào tạo trong cái nghề đáng ngờ của Intelligence và Counter Intelligence ở trên hòn đảo của vùng Caribbean. Trong một trường đào tạo điệp viên của Fidel Castro, ông cũng đã dự một khóa học tiếng Mỹ cấp tốc. Tôi có một mối nghi ngờ không mấy dễ chịu, rằng trung úy Trung chắc hẳn đã phải có nhiều kinh nghiệm trong việc hỏi cung những người lính Mỹ bị bắt giữ, và thật không muốn anh là người chủ ngục của tôi. Thế nào đi chăng nữa thì anh ta cũng nói tiếng Mỹ bằng một giọng mũi như trong biếm họa, không chấm dứt một câu nói nào mà không có từ “O.K” đi kèm, và đối xử với chúng tôi giống như một người hướng dẫn du lịch không thể chịu đựng được của American Express. Khi anh ta quá nhanh nhẩu, chúng tôi lại yêu cầu anh nên giữ đúng khuôn khổ. Thế rồi anh ta lại miễn cưỡng xin lỗi. Chúng tôi khuyên anh nên nói một giọng Anh văn minh hơn.

Một ngôi làng nằm trong vùng giải phóng năm 1973. Hình: Rene Burri

Một ngôi làng nằm trong vùng giải phóng năm 1973. Hình: Rene Burri

Đọc tiếp

Tù nhân của Việt Cộng (phần 3)

Bắt đầu từ bây giờ, chúng tôi được phép đi khắp trại với máy quay phim và máy thâu âm. Những người lính, thanh niên nông dân khỏe mạnh từ 18 đến 28 tuổi, cười thân thiện với chúng tôi. Họ chỉ cho chúng tôi xem nơi nấu thức ăn mà hệ thống hút khói dẫn qua một đường hầm dài một trăm mét, để đánh lừa không thám. Bệnh viện dã chiến biến mất dưới tàn lá cây và những cái lưới xanh. Nó được thiết lập để có thể được tháo dỡ mang đi trong vòng hai giờ. Đèn chiếu sáng trên bàn mổ được vận hành bằng một chiếc xe đạp. Sức người phải thay thế cho một cái máy phát điện. Nhìn theo góc độ nào đó thì cái trại trong rừng này giống như một trại hướng đạo. Người ta luôn tìm cách để cho những người lính hoạt động không ngưng. Họ vẫn còn sống một cuộc sống thiếu thốn trong những ngôi nhà lá của họ và trong những đường hầm bảo vệ được đào ở phía dưới, nhưng so với cái địa ngục mà họ đã đi xuyên qua, so với những cái hang cáo và ổ chuột mà họ đã tìm chỗ ẩn nấp ở trong đó hàng năm trời để tránh napalm và bom đạn, thì bây giờ họ đang sống dưới những điều kiện gần như là trên thiên đàng. Đó có là gì, khi đạn pháo binh có lần đến gần hơn vào ban đêm.

 Tây Ninh, 30 tháng 9 1971

Tây Ninh, 30 tháng 9 1971

Đọc tiếp

Tù nhân của Việt Cộng (phần 2)

Chúng tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng gà cục tác và tiếng gọi của lính canh. Trong đêm, hẳn là lực lượng canh giữ chúng tôi đã trao đổi vô tuyến với bộ tổng chỉ huy các lực lượng cách mạng ở Lộc Ninh. Một cô y tá trẻ măng với tấm băng đeo hồng thập tự đến chăm sóc cho chúng tôi. Mỗi người chúng tôi phải dùng nước nóng, mà người ta đưa cho chúng tôi do thiếu trà, để uống một viên thuốc Chinin. Như sau này chúng tôi biết được, phần lớn tổn thất trong số người Bắc Việt đều có nguồn gốc từ sốt rét. Trong tô canh còn có cả một miếng thịt bé tí hon bơi ở trong đó nữa. Viên đại úy nói với chúng tôi, rằng chúng tôi sẽ bị giữ ở lại với Mặt trận Giải phóng ít nhất là thêm một vài ngày nữa. Vì chúng tôi không có xà phòng, vật dụng cạo râu, khăn tay, nón lẫn thức ăn nên ông muốn cho người đi tìm mua những thứ cần thiết cho chúng tôi. Chừng ba giờ nữa, đoàn xe Honda hàng ngày về Lai Khê sẽ khởi hành. Ông muốn gửi người thông dịch Thanh của chúng tôi về Quốc lộ 13, và chúng tôi cần phải ghi lại cho anh ấy những thứ gì chúng tôi cần và đưa tiền cho anh ấy. Rồi vào buổi chiều, Thanh sẽ trở về với đoàn xe.

An Lộc, 1972

An Lộc, 1972

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 66 other followers