[Ga: een map omhoog, voorpagina]

Đỗ Xuân Diễn: Đường mòn Hồ Chí Minh lớn lên với cuộc chiến

Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.

Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.

Năm 1964, Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn được cử vào đường mòn Hồ Chí Minh làm kỹ sư. Ngày nay, ông là sếp của tập đoàn xây dựng quân đội xuất thân từ Đoàn 559 huyền thoại của thời đó, xây đường sá ở Việt Nam và phi trường ở nước ngoài.      

 Con đường được gọi là Hồ Chí Minh có một lịch sử lâu dài. Ngay từ cuộc chiến tranh chống người Pháp, hệ thống đường đi đó đã được sử dụng và được mở rộng trong cuộc chiến chống người Mỹ. Từ đó mà thành hình một tổ hợp rộng lớn với năm đường dọc và 21 đường ngang. Những con đường này chạy xuyên qua vùng đất của các tỉnh Quảng Bình và Vĩnh Linh qua quân khu 5 cho tới Lào, tới Nam Việt Nam và vào vùng đông bắc của Campuchia.

Năm 1964, đường mòn Hồ Chí Minh được mở rộng dần. Lúc thành lập Đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) trong năm 1959, tất cả còn được làm bằng sức người. Nhưng bây giờ thì chúng tôi cải tạo con đường mòn cho vận tải cơ giới. Nó lớn lên với cuộc chiến.

Các con đường có một chiều dài là 16.000 kilômét; nếu như cộng cả những con đường chở hàng đến thì gần 20.000 kilômét. Để bảo vệ tất cả chúng, chúng tôi có một sư đoàn phòng không và một sư đoàn tên lửa. Các đơn vị này bắn rơi trong cuộc chiến tổng cộng là 2400 máy bay Mỹ. Chúng tôi cũng có lính bộ binh để bảo vệ, đó là Sư đoàn 968. Tổng cộng có 19.000 quân địch bị giết chết dọc theo mặt trận này. Để có thể quản lý về mặt tiếp vận cho các vận chuyển dọc con đường này, dẫn cho tới một nơi chỉ cách Sài Gòn 100 kilômét, chúng tôi có những đơn vị thông tin riêng, đã hoạt động xuất sắc trong toàn bộ những năm đó. Đọc tiếp

Sylvia Roba: Các cuộc biểu tình đã đặt dấu ấn lên cả một thế hệ

Tôi nghĩ rằng 1965 là lần đầu tiên mà tôi là nữ sinh viên đã tham gia một cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam ở tại đại học Iowa. Tôi đang đi với một cô bạn gái thì có một nhóm người đi ngược lại. Họ mang theo đèn pin và nhiều tấm bảng, và tôi có thể nhận ra ngay rằng đó là một cuộc biểu tình chống chiến tranh. Cô bạn học của tôi rất bực tức, vì người yêu của cô phục vụ trong Navy và cô ấy nói rằng những người này không có quyền làm một điều như vậy. Phản ứng của tôi thì khác. Tôi không biết những con người đang đi ở đó là ai, cũng không biết mục đích của họ. Nhưng tôi cảm nhận rằng đó là một cái gì đấy có dính líu tới tôi.

Hàng trăm ngàn người biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam ở New York vào ngày 27 tháng Tư  năm 1968

Hàng trăm ngàn người biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam ở New York vào ngày 27 tháng Tư năm 1968

Đọc tiếp

Dean Hubbard: Sinh viên đốt giấy triệu tập nhập ngũ của họ

Dean Hubbard là chủ nhiệm khoa của đại học Iowa vào cuối những năm sáu mươi.    

Các cuộc biểu tình của sinh viên chống chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu vào giữa những năm sáu mươi. Những cuộc biểu tình này lúc đầu còn dè dặt, nhưng rồi đã tăng lên cùng với hoạt động tham chiến ngày một tăng của Mỹ ở Đông Dương. Khi những giấy triệu tập nhập ngũ đầu tiên được gửi về, mọi việc bắt đầu leo thang. Các sinh viên phản đổi đã dùng trí thông minh của họ để đảm bảo một tính công chúng lớn như có thể được. Họ thông báo các hoạt động của họ cho các đài truyền hình và phát thanh cũng như báo chí. Có lần họ đã chặn đường cao tốc cả ở hai chiều và gây ra một hỗn loạn trong giao thông. Cũng có những lời đe dọa đánh bom, thậm chí là cả cho một bệnh viện nữa.

Chúng tôi cố gắng trao đổi với các sinh viên. Trường đại học được đặt vào tình trạng báo động. Chúng tôi thành lập một đội trực riêng, cũng ở lại trong các tòa nhà về đêm. Các bạo loạn ở Đại học Quốc gia Kent mà trong đó nhiều sinh viên bị bắn chết cũng có nhiều tác động lớn đến thành phố của chúng tôi. Người thống đốc đã sẵn sàng sử dụng vệ binh quốc gia trong trường hợp cần thiết để chống lại các phá phách trong khuôn viên trường địa học. Chúng tôi cũng có người của chúng tôi ở ngoài đó trong đám đông với máy bộ đàm, để luôn luôn nhận được thông báo về tình hình.

Vệ binh bắt đầu nổ súng tại Kent State University

Vệ binh bắt đầu nổ súng tại Kent State University

Đọc tiếp

Ngô Thị Tuyển: “Với căm thù và quyết tâm thì người ta có thể làm được mọi việc”

Tôi thật ra là một phụ nữ nông dân hết sức bình thường. Khi còn trẻ, tôi được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh và có nhiệm vụ chuyên chở người bệnh và bị thương. Lúc 18 hay 20 tuổi, tôi gia nhập dân quân. Chỉ huy chúng tôi nói rằng người Mỹ sẽ càng mở rộng cuộc chiến hủy diệt ra miền Bắc khi họ bị tổn thất càng nhiều ở miền Nam. Vì vậy mà chúng tôi thành lập một đại đội dân quân trong làng của chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều đồng lứa tuổi với nhau, khỏe mạnh và nhiệt tình – nông dân từ cùng một làng. Lúc đầu, chúng tôi đào công sự và chiến hào cho bộ đội.

Tôi còn nhớ rất rõ lần đầu tiên tham chiến. Đó là vào buổi trưa lúc hai giờ, tôi đang làm đồng thì có hai chiếc máy bay thám thính từ biển vào. Lúc đầu chúng tôi rất sợ tiếng ồn, vì chúng tôi nhìn thấy máy bay lần đầu tiên. Vào buổi tối, chúng tôi tổ chức một phiên họp toàn thể ngay lập tức. Chúng tôi chắc chắn là người Mỹ sẽ quay lại. Kế hoạch được tức tốc thực hiện ngay trong đêm đó, và cuối cùng thì tất cả đều sẵn sàng: dân quân trong làng, đội tự vệ trong các nhà máy và đoàn viên. Vào sáng ngày hôm sau, còn chưa đến tám giờ thì đã bắt đầu: các đội hình đầu tiên của máy bay Mỹ xuất hiện. Trong những ngày tiếp theo sau đó, chúng tôi phải chống lại với trên 100 cuộc tấn công. Thế nhưng do chuẩn bị tốt nên chúng tôi chỉ bị tổn thất ít, và chúng tôi bắn hạ được trên 40 chiếc chỉ riêng trong hai ngày đầu tiên.

Cầu Hàm Rồng 1972

Cầu Hàm Rồng 1972

Đọc tiếp

Smith: “Đạo quân vô hình”

Sài Gòn là một thành phố lớn đông dân. Nó có những tòa nhà đẹp, nhưng sống sau những mặt tiền này là vô số người tỵ nạn và người Hoa. Trong mỗi một quán rượu có 20 cô gái điếm ngồi, cả trên đường phố người ta cũng gặp họ ở khắp nơi. Đường phố đầy xe gắn máy và xe Jeep quân đội. Người Mỹ đi lại trong quân phục ở khắp nơi, đủ mọi người nước ngoài nữa, và ai cũng mang vũ khí. Tôi thì để vũ khí của tôi ở lại căn cứ khi tôi đi ra ngoài. Nếu như có bắn nhau thì sẽ có đủ người Nam Việt cứ đơn giản là vứt súng của họ đi; và rồi tôi có thể nhặt lấy chúng.

Tất nhiên là tôi sợ Việt Cộng. Tôi sợ, vì những cuộc tấn công luôn xuất phát từ những các ổ phục kích. Có rất nhiều bẫy. Thỉnh thoảng có những nhóm trinh sát xuất hiện, hay Việt Cộng bò ra từ những đường hầm nào đó, và rồi họ bắn hạ một người, rồi lại lui vào đường hầm của họ, và người ta không bao giờ nhìn thấy họ nữa. Chúng tôi gọi họ là “đạo quân vô hình”, chúng tôi hiếm khi nhìn thấy họ. Khi xảy ra chiến sự thì người ta chỉ nhìn thấy những tia sáng, và nếu như người ta thật sự gặp may thì sau đó người ta có thể đếm vài xác chết hay tìm thấy dấu máu.

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Đọc tiếp

Alexander Haig: “Kennedy đã lôi chúng tôi vào Việt Nam”

Alexander Haig

Alexander Haig

Tướng Alexander Haig phục vụ nhiều tháng ở Việt nam năm 1966. Sau một lần bị thương, ông trở thành trợ tá quân sự của Henry Kissinger trong National Security Council (NSC). Năm 1973, tổng thống Nixon giao cho ông nhiệm vụ thuyết phục tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam về Hiệp định Paris.     

 Tôi ở Việt Nam 1966/67 và chiến đấu ở đó trong trận đánh lớn cuối cùng trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Chúng tôi được cử vào vùng chiến thuật C. Đó là vùng có những con đường hầm Củ Chi – “Tam giác Sắt” là tên cho vùng đất giống như cái tổ ong ở gần Sài Gòn đó. Đó là một trung tâm tiếp tế quan trọng cho Việt Cộng, Chúng tôi rất thành công ở đó, cho tới 1967 chúng tôi không thua cho tới một trận đánh. Nhưng quân địch hoạt động với các lực lượng chính của họ ở Campuchia và Lào, trong cái được gọi là lãnh thổ trung lập. Từ nơi trú ẩn đó, họ tiến hành những cuộc tấn chông chống quân đội Mỹ, gây tổn thất và rồi lại chạy trốn về phía bên kia biên giới. Đọc tiếp

Nguyễn Cao Kỳ: Thống nhất là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ là thủ tướng từ 1967 tới 1967 và phó tổng thống Nam Việt Nam từ 1967 tới 1971. Sinh ra ở gần Hà Nội, ông học tại một học viện quân đội Việt Nam vào cuối những năm 40 và sang Paris từ 1951 cho tới 1954 để được đào tạo thành phi công. Sau cuộc đảo chính Diệm năm 1963, ông chỉ huy lực lượng Không quân Nam Việt Nam. Trong thời gian nhậm chức thủ tướng, ông đã phá vỡ lực lượng đối lập của Phật giáo trong đất nước với những biện pháp tàn bạo, chạy sang Hoa Kỳ năm 1975 dưới sự bảo vệ của người Mỹ và ngày nay là doanh nhân ở đó.  

 Vào cuối cuộc chiến tranh chống Pháp – sau Hiệp định Genève năm 1954 – Việt Nam bị chia ra thành miền Bắc và miền Nam. Nam Việt Nam trở thành một cái gì đó giống như tiền đồn của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đó không phải là quyết định của nhân dân Việt Nam, đó là một thỏa thuận của các cường quốc.

Chúng tôi gọi miền Bắc là vệ tinh của Nga và họ gọi chúng tôi là bù nhìn của Mỹ. Cả hai đều không đúng: chúng tôi là những người dân tộc chủ nghĩa, là người Việt. Chúng tôi đã và đang là một nước nhỏ và nghèo. Tôi thật đau lòng khi một vài người vẫn còn nghĩ rằng chúng tôi chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho ai đó, nhưng không cho Việt Nam. Ngày nay, đất nước lại thống nhất. Đó là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt. Tất nhiên là chúng tôi phải giải quyết nhiều vấn đề; có kẻ thắng và người thua. Và có nhiều điều tàn ác trong vòng 25 năm vừa qua trong người Việt, nhưng chúng tôi đã đạt tới mục tiêu của chúng tôi – thống nhất đất nước.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 58 other followers