[Ga: een map omhoog, voorpagina, ]

Nguyễn Cao Kỳ: Thống nhất là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ là thủ tướng từ 1967 tới 1967 và phó tổng thống Nam Việt Nam từ 1967 tới 1971. Sinh ra ở gần Hà Nội, ông học tại một học viện quân đội Việt Nam vào cuối những năm 40 và sang Paris từ 1951 cho tới 1954 để được đào tạo thành phi công. Sau cuộc đảo chính Diệm năm 1963, ông chỉ huy lực lượng Không quân Nam Việt Nam. Trong thời gian nhậm chức thủ tướng, ông đã phá vỡ lực lượng đối lập của Phật giáo trong đất nước với những biện pháp tàn bạo, chạy sang Hoa Kỳ năm 1975 dưới sự bảo vệ của người Mỹ và ngày nay là doanh nhân ở đó.  

 Vào cuối cuộc chiến tranh chống Pháp – sau Hiệp định Genève năm 1954 – Việt Nam bị chia ra thành miền Bắc và miền Nam. Nam Việt Nam trở thành một cái gì đó giống như tiền đồn của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đó không phải là quyết định của nhân dân Việt Nam, đó là một thỏa thuận của các cường quốc.

Chúng tôi gọi miền Bắc là vệ tinh của Nga và họ gọi chúng tôi là bù nhìn của Mỹ. Cả hai đều không đúng: chúng tôi là những người dân tộc chủ nghĩa, là người Việt. Chúng tôi đã và đang là một nước nhỏ và nghèo. Tôi thật đau lòng khi một vài người vẫn còn nghĩ rằng chúng tôi chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho ai đó, nhưng không cho Việt Nam. Ngày nay, đất nước lại thống nhất. Đó là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt. Tất nhiên là chúng tôi phải giải quyết nhiều vấn đề; có kẻ thắng và người thua. Và có nhiều điều tàn ác trong vòng 25 năm vừa qua trong người Việt, nhưng chúng tôi đã đạt tới mục tiêu của chúng tôi – thống nhất đất nước.

Đọc tiếp

Barry Zorthian: Năm năm khó khăn ở Việt Nam (1963 tới 1968)

Barry Zorthian lúc đầu làm việc cho Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Từ 1964 cho tới 1968 ông là người phát ngôn của chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Bên cạnh chức vụ là người liên lạc với giới truyền thông, ông còn chỉ huy các chiến dịch tâm lý ở Việt Nam. Sau các hoạt động cho chính phủ, Zorthian làm việc cho Timing Corporation (“Time Magazine”).

 Tôi ở Việt Nam trong thời của Kennedy. Sau vụ ám sát Diệm đã có thay đổi về nhân sự. Trong tháng Mười Một 1963, chính phủ gởi một đội ngũ mới sang Việt Nam. Tôi là thành viên của nhóm này.

Về vụ ám sát Ngô Đình Diệm thì tôi tin rằng chính phủ của chúng tôi đã đưa ra sự đồng ý của họ – hay tốt hơn: Khi họ biết được kế hoạch đó qua đại sứ Cabot Lodge của họ thì họ không phản đối. Chúng tôi đã nói chuyện với Lodge về vụ ám sát Diệm. Cho tới tháng Sáu 1964, tôi phục vụ dưới quyền chỉ huy của ông, rồi ông trở về Hoa Kỳ để rồi một năm sau đó lại làm việc như là đại sứ ở Sài Gòn. Nhưng ông không bao giờ thừa nhận rõ ràng là đã đồng ý với vụ mưu sát.

Barry Zorthian với tướng William C. Westmoreland

Barry Zorthian với tướng William C. Westmoreland

Đọc tiếp

Peter Arnett: Kết thúc của Ngô Đình Diệm (1963)

Peter Arnett đứng cạnh một chiếc A 1 Skyraider đã cháy rụi vào ngày 12 tháng Mười 1965 ở gần Biên Hòa

Peter Arnett đứng cạnh một chiếc A 1 Skyraider đã cháy rụi vào ngày 12 tháng Mười 1965 ở gần Biên Hòa

Peter Arnett làm việc cho hãng thông tấn Associated Press (AP) từ 1962 cho tới 1975 ở Việt Nam và qua đó là phóng viên lâu năm nhất ở tại chỗ. Các bài viết mang nhiều tính phê phán của ông thường không làm cho giới quân đội Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam hài lòng. Đối với nhiều người, ông là thông tính viên tốt nhất của Chiến tranh Việt Nam. Mới đây, ông cũng nổi tiếng qua những bài tường thuật riêng cho CNN từ Chiến tranh vùng Vịnh chống Iraq.

Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tương đối kiêu ngạo khi tới Việt Nam. Lúc đầu, người Pháp đã thất bại ở đất nước này. Chính sách của họ, chính sách mà với nó, họ muốn tái chiếm vương quốc thuộc địa của họ sau Đệ nhị Thế chiến, đã thất bại. Họ đã thua một loạt các trận đánh lớn. Nhưng Hoa Kỳ không vì vậy mà e sợ. Các sĩ quan Mỹ mà tôi gặp vào đầu những năm sáu mươi gọi nổ lực của người Pháp là nửa vời. Lời bình của họ: “Chúng tôi đã cứu thoát người Pháp hai lần trong thế kỷ này rồi, trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, và chúng tôi chắc chắn là chúng tôi có thể cứu thoát họ thêm một lần nữa. Chúng tôi đi vào đó. Chúng tôi có thể chiến thắng xung đột này.” Tức là người Mỹ không những quên bài học từ chiến bại của người Pháp. Không, họ lao vào sự việc và tin rằng: Nếu anh nhét đủ tiền vào trong đó thì anh đã thắng rồi! Vì Hoa Kỳ cho rằng họ cần phải làm tròn một nhiệm vụ trên khắp thế giới và cứu thoát nhân loại ra khỏi chủ nghĩa cộng sản. Họ thật sự tin như vậy. Và họ bước vào cuộc xung đột với niềm tin này. Họ không nhìn thấy tài tổ chức của phe cộng sản, không chú ý tới tình hình quân sự đang đi tới khủng hoảng, không cảm nhận được nhiệt tình đấu tranh của người cộng sản. Tính toán rất đơn giản: “Chủ nghĩa cộng sản là xấu xa, chúng ta chiến đấu cho một sự việc tốt hơn, tức là chúng ta sẽ chiến thắng.” Đọc tiếp

Walt Whitman Rostow: Vũ khí hạt nhân chưa từng bao giờ được đưa ra tranh luận

Năm 1961, Walt Whitman Rostow trở thành thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia và là giám đốc kế hoạch của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Năm 1966 ông chuyển sang bộ tham mưu của tổng thống Johnson làm cố vấn an ninh quốc gia. Nhà giáo sư kinh tế học này là một trong những nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhất trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ông muốn ngăn chận chủ nghĩa cộng sản ở khắp nơi trên thế giới bằng cách can thiệp quân sự và giúp đỡ về kinh tế, và gọi Đông Nam Á là “cuộc đối đầu lớn cuối cùng”. Rostow là người đầu tiên ủng hộ ném bom Bắc Việt Nam và được xem là người thân cận của Johnson cho tới cuối cùng. Năm 1969, ông từ chức và kể từ đó là giáo sư ở University of Texas.

Rostow và Johnson ở cạnh một mô hình của Khe Sanh

Rostow và Johnson ở cạnh một mô hình của Khe Sanh

Đọc tiếp

Pierre Salinger: De Gaulle đã cảnh báo Kennedy (1961)

Pierre Salinger là thuyền trưởng hải quân trong Đệ nhị Thế chiến, sau đó đã trở về với nghề nghiệp nhà báo ban đầu của ông và rồi là thư ký báo chí của John F. Kennedy.

Chuyến thăm viếng chính thức của John F. Kennedy như là tổng thống Hoa Kỳ mới thắng cử năm 1961 đã dẫn ông sang Pháp. Tôi đã ở đó từ sáu tuần trước và chuẩn bị cuộc gặp gỡ của ông với Charles de Gaulle. Thế rồi chúng tôi đi xe về Paris. Kennedy yêu cầu tôi tham gia các cuộc trao đổi, vì khác với ông, tôi biết nói tiếng Pháp và ông quan tâm tới thông tin chính xác ngoài những người phiên dịch chính thức. Đó là một cuộc gặp gỡ rất thú vị, và gây ấn tượng cho tôi đặc biệt là lời nói gần như là khẩn nài của de Gaulles: “Anh đừng bước vào cuộc chiến tranh với Việt Nam! Anh thấy những gì đã xảy ra cho chúng tôi rồi. Chúng tôi đã thua cuộc chiến đó. Cả anh cũng sẽ thua nó!”

Trong mối liên quan này tôi cũng nhớ một cuộc trao đổi rất lâu mà Kennedy đã tiến hành với thượng nghị sĩ Eugene McCarthy trong mùa hè 1963, người trong Đệ nhị Thế chiến là người quan trọng nhất của Hoa Kỳ cho châu Á. Sau đó, McCarthy vào phòng làm việc của tôi và giải thích. “Bây giờ tôi nói với anh chính xác điều mà tôi cũng đã nói với Kennedy. Ông ấy không bao giờ, không bao giờ nên tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, vì ông sẽ thua nó. Đó là một sai lầm.”

Trong tháng Mười một 1963, Kennedy gửi tôi sang Tokio, để chuẩn bị cho chuyến đi thăm của ông, dự định là sáu tuần tới. Ông nói với tôi trước khi lên đường: “Tôi sẽ tiến hành đối thoại với Bắc Việt Nam và làm rõ rằng sẽ không có chiến tranh.” Máy bay của tôi khởi hành vào ngày 22 tháng Mười một vào lúc sáu giờ sáng – ba giờ sau đó, tôi nhận được tin là Kennedy đã bị giết chết.

Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”

Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương

Claude Cheysson: Hội nghị Đông Dương ở Genève (1954)

Claude Cheysson trong những năm 50 làm việc trong Bộ Ngoại giao Pháp, ban đầu là cố vấn cho chính phủ Nam Việt Nam. Ngoài những việc khác, ông đã từng là một người lính tham gia trận Điện Biên Phủ (1954). Cuối cùng, Cheysson là một trong những nhà cố vấn cho thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France, cùng chuẩn bị Hội nghị Đông Dương ở Genève và tham dự hội nghị này. Sau đó, ông lại được gởi sang Việt Nam, để giải thích tại chỗ về các thỏa thuận giữa Pháp và VNDCCH.

Tinh thần ở Pháp trước Hội nghị Đông Dương tại Genève bị chia rẽ. Một mặt, trong người dân và cả trong chính phủ Pháp hẳn là muốn có một thỏa thuận với Hồ Chí Minh và Việt Minh. Tôi tin rằng ngay từ năm 1945, Tướng de Gaulle đã thích một thỏa thuận với người Việt hơn. Nhưng mặt khác, chính những người cánh hữu của Pháp lại không muốn từ bỏ Đông Dương. Với việc cử Đô đốc d’Argenlieu làm cao ủy Đông Dương (1945), lực lượng này đã thành công trong việc củng cố vị trí của họ.

Claude Cheysson

Claude Cheysson

Đọc tiếp

Vinh: Trận Điện Biên Phủ (1954)

Vinh

Vinh

Một người lính thường của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Tôi nhập ngũ trong tháng Chín 1952. Thời đó còn chưa có nghĩa vụ quân sự, những người tòng quân đều là tình nguyện cả thôi. Tình đồng đội của chúng tôi rất tốt. Chúng tôi luyện tập dưới những điều kiện sống rất khó khăn, đói ăn. Nhưng chúng tôi vẫn hăng hái học bắn súng, ném lựu đạn, đào hào và chiến đấu theo đội hình.

Khi chuẩn bị cho Điện Biên Phủ, tôi là một người lính bộ binh bình thường. Tuy chúng tôi không biết nhiều về chiến lược, nhưng chúng tôi cảm nhận được là công việc chuẩn bị được tiến hành rất tốt. Tinh thần của chúng tôi cũng rất tốt, chúng tôi tập luyện tại một địa điểm bí mật để làm sao mà phá vỡ được một pháo đài. Các điều kiện xung quanh cũng tốt, có đủ gạo, đủ thuốc men, đủ đạn dược và quân lính. Ví dụ như đơn vị tôi được tăng cường tới năm lần. Ngoài ra, phối hợp giữa các đội hình cũng rất tốt. Các đơn vị hậu cầu hành quân giống như nước chảy vậy, người trong đủ loại quần áo, nói đủ các thứ tiếng. Tinh thần thật là tuyệt vời. Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 59 other followers